- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C phạm tội “Huỷ hoại tài sản”. - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi,…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! HUYỆN!CHÂU!THÀNH! TỈNH!LONG!AN! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HS-ST Ngày: 30-12-2022. |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!CHÂU!THÀNH!TỈNH!LONG!AN!
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông!Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Ngọc Dình.
Ông Đinh Ngọc Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An tham gia phiên tòa:!Ông Lê Văn Hải!- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 11, ngày 27 và ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 10 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 10 năm 2022, đối với các bị cáo:
1/-!Nguyễn Công B, sinh ngày 19/4/1985; nơi sinh: Tỉnh T. Nơi cư trú: Số 138A, đường T, phường 8, thành phố M, tỉnh T; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Dương Thị Kim C; Vợ: Bùi Võ Phương Q. Con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 08/7/2022 đến ngày 08/9/2022, cho gia đình bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
2/-!Trần Nhật T, sinh ngày 13/3/1995; nơi sinh: Tỉnh T. Nơi cư trú: Ấp H, xã M, thành phố M, tỉnh T; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thành N và bà Lư Thị N; Vợ: Nguyễn Thanh V (đã ly hôn). Con: Có 01 người, sinh năm 2018.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 08/7/2022 đến ngày 08/9/2022, cho gia đình bảo lĩnh, có mặt tại phiên tòa.
3/- Lê Ngọc C, sinh ngày 24/3/2004; nơi sinh: Tỉnh T. Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh T; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Ngọc T và bà Nguyễn Thị Thanh D; Vợ, con: chưa có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 31/12/2021, bị UBND xã A, huyện Châu Thành, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.750.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản, đã nộp phạt xong ngày 11/02/2022.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1944. Địa chỉ: Số 37/8, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Có mặt tại phiên toà ngày 30/11/2022, vắng mặt tại phiên toà ngày 27/12 và ngày 30/12/2022.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Phan Văn H, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số 37/8, ấp L, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Có mặt tại phiên toà ngày 30/11/2022, vắng mặt tại phiên toà ngày 27/12 và ngày 30/12/2022.
2/ Bà Bùi Võ Phương Q, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số 285 Bis, X, phường 3, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
3/ Ông Huỳnh Anh T, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 305 Bis, X, phường 3, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
- Người làm chứng:
1/ Ông Cao Tấn C, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 37/8, ấp L, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Vắng mặt.
2/ Ông Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1999. Địa chỉ: Số 215/6, ấp L, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Có mặt.
3/ Ông Nguyễn Duy Th, sinh năm 1987. Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
4/ Ông Trần Tuấn V, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
5/ Ông Lê Hoàng L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Có mặt.
6/ Ông Huỳnh Phúc Đ, sinh năm 1998. Địa chỉ: Số 341, khu phố H, thị trấn T, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Vắng mặt.
7/ Bà Mã Thị Kim C, sinh năm 1985.
8/ Cao Ngọc L, sinh ngày 19/8/2008.
Người đại diện theo pháp luật của Cao Ngọc L: Bà Mã Thị Kim C, sinh năm 1985. Cùng địa chỉ: Số 37/8, ấp L, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Vắng mặt.
!
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cao Tấn C và Nguyễn Phát Đ quen biết nhau trong quá trình mua bán thanh long. Cường vay nợ của Đ nhiều lần tổng số tiền 750.000.000 đồng, sau đó làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất do C đứng tên cho Đ, để thế chấp. Do C không có tiền trả nợ, nên Đ chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên cho Nguyễn Duy T với số tiền 450.000.000 đồng và C làm giấy nợ của Đ 300.000.000 đồng, nhưng C vẫn không có tiền trả nợ cho T và Đ. Sau khi đứng tên thửa đất trên, T yêu cầu C bàn giao nhà đất hoặc trả tiền cho T nhưng C lánh mặt. Ngày 20/6/2022, T, Đ cùng với Nguyễn Công B là bạn của T đến nhà tìm C để thỏa thuận việc giao nhà đất nhưng không gặp và còn bị hai người anh của C là Cao Tấn D và Phan Văn H hăm dọa đánh và đuổi ra khỏi nhà.
Ngày 27/6/2022, Thiện liên hệ Đ và B cùng đi đến nhà C để thỏa thuận việc giao nhà đất. T đi 01 mình bằng xe ô tô biển số 63A - 160.95, B đi xe ô tô biển số 71A - 015.71 chở theo 03 người bạn là Trần Nhật T, Ngh và Nh (không rõ họ, tên, địa chỉ). Đ rủ thêm 04 người bạn đi cùng là Lê Ngọc C, Trần Quốc V, Lê Hoàng L, Huỳnh Phúc Đ. Mục đích của T và Đ rủ người đi theo nhằm đề phòng người nhà của C rượt đánh thì có người can ngăn. Khi gần đến nhà C thì B và T đậu xe ô tô ngoài tỉnh lộ 827C cách nhà C khoảng 300m và gặp nhóm của Đ đi xe mô tô đến. Nhóm của Đ điều khiển xe mô tô đưa nhóm người của T và B vào nhà C.
Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 27/6/2022, khi nhóm của T và Đ đến nhà C thì T kéo mở cửa rào để B, T, C, Đ, Nh, Ngh, L, V vào nhà C, còn T và Đ đứng ở đường đan trước nhà. T vào nhà lượm cục gạch ống chọi làm hư đầu camera phía trên cửa chính, bể kính khung lam gỗ. Đ và Ngh đứng ở sân; B, T, C, V, L, Nh đi vào trong nhà tìm C nhưng không gặp. T đi đến nhà bếp dùng hai tay nâng mặt bàn ăn hất xuống nền làm bể mặt bàn và tiếp tục đi lên hướng nhà trên thấy chiếc ti vi hiệu Asanzo 32 inch treo ở vách tường giáp nhà bếp thì dùng tay nắm dây điện nguồn ti vi kéo ti vi rớt xuống nền nhà làm hư hỏng ti vi. T, V, L đi lên nhà trên, V thấy đầu camera ở phòng khách nên lượm cục gạch ống ném nhưng không thiệt hại, T dùng cây quét mạng nhện bằng tre đập gãy đế của mắt camera rồi đi xuống nhà bếp. Khi B và C đi đến nhà bếp, B lấy tấm thớt gỗ chọi vào vách tường, lấy ghế dựa bằng inox đập vào tủ kính sát vách tường. Công dùng ghế dựa inox đập vào tủ kính này và tiếp tục lấy ghế đập vào máy lọc nước. Bằng dùng tay kéo ngã máy lọc nước, kéo ngã tủ lạnh. Lúc này có ông Phan Văn H đến đứng ở sau nhà cầm 02 khúc gỗ hỏi nhóm B làm gì dữ vậy thì B dùng ghế dựa inox ném trúng người ông H. B tiếp tục kéo ngã kệ đựng chén, hất lồng bàn đậy thức ăn bằng nhựa xuống nền, lấy bếp gas quăng xuống nền nhà rồi đi lên nhà trên. Đến giữa nhà, B dùng chân đá hư hỏng cây quạt đứng, dùng tay đập bể kính tủ quần áo. Đến phòng khách, B dùng tay kéo ngã ti vi hiệu Samsung 43 inch xuống nền nhà làm hư hỏng. Tất cả số tài sản trên là của bà Nguyễn Thị Th là mẹ ruột của Cao Tấn C. Sau đó, nhóm của B và Đ bỏ đi về thì bị Công an huyện Châu Thành mời làm việc.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐG ngày 05/7/2022 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Châu Thành xác định giá trị thiệt hại:
- 01 đầu camera Kbvision: Giá trị định giá thay thế 1.500.000 đồng.
- 01 đầu camera Kbvision bị gãy đế, có thể khắc phục được. Không định giá tài sản này.
- 01 ti vi Samsung 43 inch model UA43MU6100K, hiện không còn hàng mới 100%. Qua khảo sát ti vi cùng loại tương đương, giá mua mới 11.900.000 đồng. Giá trị định giá 11.900.000 đồng x 50% = 5.950.000 đồng.
- 01 ti vi Asanzo 32 inch model ES32T800, hiện không còn hàng mới 100%. Giá trị định giá 2.600.000 đồng x 50% = 1.300.000 đồng.
- 01 vỏ tủ máy lọc nước SaganarodowUSA. Giá trị định giá thay thế mới 100%: 800.000 đồng.
- 01 quạt đứng hiệu TPFAN, giá trị định giá 200.000 đồng.
- 01 tủ quần áo khung nhôm: Thay thế kính 01 cửa lùa 106cm x 126cm x 5mm, giá trị 600.000 đồng. Thay thế kính 01 cửa mở 36cm x 126cm x 5mm, giá trị 150.000 đồng.
- 01 tủ đựng ly chén khung nhôm: Thay thế kính 02 cửa mở 30cm x 70cm x 3mm, giá trị 200.000 đồng. Thay thế 03 cửa mở 32cm x 84cm x 3mm, giá trị 300.000 đồng.
- 01 bàn ăn chân inox loại 6 ghế: Bể mặt bàn kiếng 0,7m x 1,4m x 10cm. Giá trị thay thế mới 1.600.000 đồng.
- 01 ghế dựa inox có nệm: cong 01 chân. Tình trạng hư hỏng nhẹ, có thể khắc phục, không định giá.
- 03 bộ tách trà bằng sứ tráng men, 15 chén tráng men: bể hoàn toàn. Giá trị định giá mới thay thế: 03 bộ tách x 165.000 đồng = 495.000 đồng, 15 chén tráng men loại thường: 105.000 đồng.
- Khung lam gỗ cửa trước: bể kính 50cm x 131cm x 5mm. Giá trị định giá 250.000 đồng.
- 02 tấm la phông thạch cao, kích thước 44cm x 60cm. Giá trị thay thế mới 80.000 đồng.
Tổng giá trị định giá: 13.530.000 đồng.
Bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại số tiền 45.000.000 đồng. Bà Bùi Võ Phương Q là vợ bị cáo Nguyễn Công B đã nộp tiền bồi thường xong cho bị hại.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã xử lý vật chứng trả lại cho Nguyễn Công B do bị hại đã nhận tiền bồi thường, không nhận lại tài sản gồm: 01 đầu Camera hiệu Kbvision , 01 đầu Camera hiệu Kbvision, 01 ti vi hiệu Samsung 43 inch model UA43MU6100K, 01 ti vi hiệu Asanzo 32 inch model ES32T800, 01 máy lọc nước hiệu SaganarodowUSA, 01 quạt đứng hiệu TPFAN, 01 ghế dựa inox, 02 tấm la phông thạch cao, 01 đoạn cây tre dài 1,3m, đường kính 2,5cm; 01 đoạn cây tre dài 1,96m, đường kính 2,5cm, đầu đoạn tre có gắn chổi quét mạng nhện, nhiều mảnh vỡ gạch ống, kính thủy tinh, chén, kính máy lọc nước, bình trà, tách trà.
Thu giữ 03 đoạn dữ liệu điện tử (chuyển theo hồ sơ vụ án).
03 con dao tự chế của bị cáo B mua để phòng thân, không có mục đích gây thương tích cho người khác và gây rối trật tự công cộng, không có liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã bàn giao cho Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện Châu Thành để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSCT ngày 04 tháng 10 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C về tội: “Huỷ hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C theo tội danh và điều luật nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công B mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Nhật T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc C mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Các bị cáo không có tranh luận với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát và nói lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ mức án cho các bị cáo.
!!!!!!!!!!!!!!!!NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, của Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với bà Nguyễn Thị Th là bị hại, ông Phan Văn H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Cao Tấn C và bà Mã Thị Kim C là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng các đương sự đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự, theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C đã khai nhận: Lúc 15 giờ 45 phút ngày 27/6/2022, Nguyễn Duy Th hẹn Nguyễn Phát Đ, Nguyễn Công B đến nhà Cao Tấn C tại ấp L, xã L, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, để thỏa thuận việc giao đất. Khi đến nhà C thì Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C tự ý vào nhà đập phá huỷ hoại tài sản của bà Nguyễn Thị Th, tổng giá trị tài sản thiệt hại theo định giá là 13.530.000 đồng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng khác trong hồ sơ vụ án.
Điều 178 Bộ luật Hình sự, quy định tội: Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm . ..”
Xét thấy các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C đã cố ý huỷ hoại tài sản của bà Nguyễn Thị Th, giá trị thiệt hại theo định giá là 13.530.000 đồng.
Do đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C đã phạm tội “Huỷ hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C là những người thành niên đều nhận thức rõ hành vi huỷ hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Các bị cáo cùng cố ý thực hiện hành vi huỷ hoại tài sản, không có sự bàn bạc trước, nên là đồng phạm giản đơn, cùng thực hiện. Trong đó bị cáo Nguyễn Công B là người đập phá, huỷ hoại tài sản của bị hại nhiều nhất, giá trị thiệt hại theo định giá là 8.800.000 đồng. Bị cáo Trần Nhật T là người khởi xướng việc đập phá, huỷ hoại tài sản của bị hại trước và hành vi của bị cáo cũng rất quyết liệt, giá trị thiệt hại tài sản do bị cáo gây ra theo định giá là 5.230.000 đồng. Bị cáo Lê Ngọc C năm 2021 đã bị UBND xã A, huyện Châu Thành xử phạt vi phạm hành chính về hành vi huỷ hoại tài sản nhưng bị cáo không chịu cải sửa, bị cáo đã cùng với bị cáo Nguyễn Công B đập phá 01 máy lọc nước và 01 tủ quần áo, giá trị thiệt hại theo định giá là 1.300.000 đồng. Do đó các bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi của từng bị cáo. Để lập lại trật tự kỷ cương của pháp luật, cần tuyên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng thì mới đề cao tính nghiêm minh của pháp luật cũng như răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, như: Bị cáo Nguyễn Công B đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhiều đóng góp cho xã hội là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Trần Nhật T có các tình tiết giảm nhẹ như đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương hạng nhì, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Ngọc C có các tình tiết giảm nhẹ như đã bồi thường thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm i, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ, là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nên cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện cải sửa bản thân trở thành công dân tốt cho xã hội.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị xử phạt các bị cáo về tội danh và mức án trên là phù hợp.
Đối với Nguyễn Duy Th, Nguyễn Phát Đ, Lê Hoàng L, Huỳnh Phúc Đ, Nhựt, Ngh (không rõ nhân thân) không có bàn bạc, không tham gia cùng các bị cáo huỷ hoại tài sản của bị hại nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Đối với Trần Quốc Vũ khi thấy Bằng, Tâm, Công huỷ hoại tài sản của bà Nguyễn Thị Thân thì Vũ sợ liên quan, nên có hành vi dùng gạch ống ném vào đầu camera phòng khách nhưng không gây thiệt hại, mục đích không để camera ghi hình có V tại hiện trường. V không có bàn bạc với ai về việc đập phá tài sản và việc V dùng gạch ném camera nhưng không gây thiệt hại nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với V là có căn cứ.
Đối với hành vi bị cáo Nguyễn Công B dùng ghế ném trúng ông Phan Văn H gây thương tích nhẹ nhưng ông Hiền không yêu cầu giám định và xử lý nên Cơ quan điều tra không xử lý B về hành vi cố ý gây thương tích là đúng quy định.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Công B và bị hại Nguyễn Thị Th đã thoả thuận bồi thường xong giá trị tài sản bị thiệt hại là 45.000.000 đồng. Bị cáo B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Văn H đã thoả thuận bị cáo B bồi thường cho ông H 2.000.000 đồng. Bà Thân, ông H không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét.
Bà Bùi Võ Phương Q là người nộp tiền bồi thường thay cho các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T và Lê Ngọc C. Bà không có yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả lại cho bà nên không xem xét. Ông Huỳnh Anh T không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[4] Về tài sản tạm giữ: Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho các chủ sở hữu các tài sản liên quan đến vụ án nên không xem xét.
[5] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C phạm tội “Huỷ hoại tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công B 01 (một)!năm tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/7/2022 đến ngày 08/9/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Nhật T 09 (chín)!tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 08/7/2022 đến ngày 08/9/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 178; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Ngọc C 06 (sáu)!tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Công B, Trần Nhật T, Lê Ngọc C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Ngọc Dình – Đinh Ngọc Minh
Phạm Văn Thái