- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Nhựt Đ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Nhựt Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 330 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2022/HS-PT Ngày: 22 - 04 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: ông Nguyễn Văn Thành.
Các"Thẩm"phán:"Ông Bích Văn Nhiên và ông Vũ Đức Hùng.
- Thư ký phiên tòa:"Ông Lương Trọng Kha, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:" Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 04 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 03 /2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 1 năm 2022 đối với bị cáo Lê Nhựt Đ" có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số:62/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân.
-"Bị"cáo"có"kháng"cáo: Lê Nhựt Đ"(tên"gọi"khác:"Không), sinh năm: 1999 tại Bình Thuận; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã Th, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Th và bà Hoàng Thị Kim S; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 16/9/2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Tân, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Tuấn Hải – Luật sư, Văn phòng luật sư Vũ Tuấn Hải, thuộc đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh."Địa chỉ: 455B Thủ Khoa Huân, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. (có"mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/10/2020, Tổ công tác kiểm tra hoạt động khoáng sản trái phép trên địa bàn xã Th, huyện H, tỉnh Bình Thuận do ông Nguyễn Văn T (Phó"trưởng"Công"an"xã"T"Hải"–"Tổ"phó"tổ"kiểm"tra"khoáng"sản"xã" T"Hải) phụ trách, tiến hành tuần tra theo lịch phân công đến khu vực thôn T Hải, xã Th, huyện H thì phát hiện thấy xe máy kéo do Lê Nhựt Đ đang chở khoáng sản (cát"xây"dựng). Ông T yêu cầu Đ dừng phương tiện để kiểm tra nhưng Đ không chấp hành mà điều khiển xe đến khu vực đất trống gần đó, dừng xe, tắt máy rồi bỏ đi. Sau đó, Đ điện thoại cho cha, mẹ đẻ là Lê Văn Th, Hoàng Thị Kim S cùng anh ruột là Lê Nhựt Q đến hiện trường. Tại đây, tổ công tác yêu cầu Lê Nhựt Đ đưa xe máy kéo về trụ sở UBND xã T Hải để làm việc nhưng Đ không chấp hành mà cùng với gia đình có hành vi chống đối lại, cụ thể: Lê Nhựt Q nổ máy xe đổ cát xuống đất, tiếp đến Đ lên xe điều khiển xe máy kéo chạy đi; khi ông Nguyễn Văn T ngăn cản thì Đ cho xe chạy về hướng ông T nhưng ông T tránh né kịp. Thấy vậy, ông T leo lên cabin dùng tay trái đu vào thanh sắt trên xe yêu cầu dừng xe nhưng Đ không chấp hành nên ông T dùng công cụ hỗ trợ là súng bắn đạn cao su bắn 01 phát chỉ thiên, cùng lúc Q nhảy lên xe định kéo ông T xuống nhưng do bị tuột tay nên Q ngã xuống đất; Lê Văn Th nhảy lên và cầm tay ông T kéo xuống xe, Đ lúc này cũng dùng tay xô đẩy ông T ra khỏi cabin. Khi xe máy cày bị vướng vật cản dừng lại thì Hoàng Thị Kim S dùng tay cào cấu, đánh vào người, giật áo ông T làm bung áo và rơi bảng tên, đồng thời chưởi bới xúc phạm ông T và các thành viên trong tổ công tác.
Sau khi vụ việc xảy ra, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập làm việc nhưng Lê Nhựt Đ không chấp hành bỏ trốn. Đến ngày 16/9/2021, Lê Nhựt Đ bị bắt theo Quyết định truy nã số 04/QĐ-ĐTTH ngày 25/3/2021 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Hàm Tân.
Về dân sự: Ông Nguyễn Văn T chỉ bị thiệt hại về tài sản có giá trị nhỏ và không bị thương tích nên không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Nhựt Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Nhựt Đ 01 (một")"năm 03"(ba)"tháng"tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 16 tháng 9 năm 2021.
Ngoài ra, còn Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo bản án theo luật định
Ngày 08/12/2021, bị cáo Lê Nhựt Đ có đơn kháng cáo cho rằng bị oan sai
Ngày 01/03/2022, bị cáo Lê Nhựt Đ có đơn kháng cáo bổ sung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo bổ sung, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"tỉnh"Bình"Thuận"phát"biểu"quan"điểm"của" Viện"kiểm"sát"về"vệc"giải"quyết"vụ"án:
Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Nhựt Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và xử phạt mức án 01 năm, 03 tháng tù là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 62/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân .
Ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo: tại phiên tòa bị cáo thật sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi của mình, đề nghị hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: bị cáo thực sự ăn năn hối hận hành vi do bị cáo gây ra xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/10/2020, Tổ công tác kiểm tra hoạt động khoáng sản trái phép trên địa bàn (theo Quyết định số 141/QĐ-UBND ngày 29/9/2020 của Chủ tịch UBND xã T Hải) do đồng chí Nguyễn Văn T (Phó trưởng Công an xã T Hải – Tổ phó tổ kiểm tra khoáng sản xã T Hải) tiến hành tuần tra theo lịch phân công đến khu vực thôn T Hải, T Hải, Hàm Tân phát hiện xe máy kéo do Lê Nhựt Đ đang chở khoáng sản (cát xây dựng). Khi phát hiện, đồng chí T yêu cầu Đ dừng phương tiện để kiểm tra nhưng Đ không chấp hành mà điều khiển xe đến khu vực đất trống gần đó, dừng xe, tắt máy và bỏ đi. Sau đó, Đ gọi điện thoại cho Lê Văn Th (là cha ruột), Hoàng Thị Kim S (là mẹ ruột) và Lê Nhựt Q (là anh ruột) cùng đến hiện trường. Tại đây, tổ công tác yêu cầu Lê Nhựt Đ đưa xe máy kéo về trụ sở UBND xã T Hải để làm việc nhưng Đ không chấp hành mà cùng với gia đình có hành vi chống đối, cụ thể: Lê Nhựt Q nổ máy xe, ben cát xuống đất, tiếp đến Đ lên điều khiển xe máy cày và khi đồng chí T ngăn cản thì Đ đâm thẳng xe vào đồng chí T nhưng đồng chí T tránh né kịp. Thấy vậy, đồng chí T leo lên cabin, một tay cầm công cụ hỗ trợ là súng bắn đạn cao su, tay còn lại nắm thanh sắt rồi yêu cầu Đ dừng xe nhưng Đ không chấp hành nên đồng chí T đã bắn 01 phát chỉ thiên, cùng lúc đó Q nhảy lên xe ôm cổ kéo đồng chí T xuống nhưng do bị tuột tay nên Q ngã xuống đất, tiếp đến ông Th nhảy lên và cầm tay đồng chí T kéo xuống xe, Đ lúc này cũng dùng tay xô đẩy đồng chí T ra khỏi cabin. Khi xe máy cày bị vướng vật cản và dừng lại thì S dùng tay cào cấu, đánh vào người, giật áo đồng chí T làm bung áo và rơi bảng tên, đồng thời chửi bới xúc phạm đồng chí T và các thành viên của tổ công tác.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến hoạt động trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây cản trở hoạt động thực thi nhiệm vụ của người thi hành công vụ được pháp luật bảo vệ. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử cần xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét kháng cáo của bị cáo:
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 01 (một")"năm 03"(ba)"tháng"tù là có căn cứ không oan.
Bị cáo kháng cáo ngày 08/12/2021 kêu oan, ngày 01/03/2022 kháng cáo bổ sung xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm thấy bị cáo đã thành thật khai báo, thực sự ăn năn hối cải, nhận thức được việc làm sai trái của mình, vì vậy thấy cần giảm hình phạt cho bị cáo là đúng tính chất mức độ, đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật Việt Nam.
Đối với quan điểm tranh luận của người bào chữa cho bị cáo, hội đồng xét xử nhận thấy: Các tình tiết mà người bào chữa nêu ra, như nhận thức được việc làm sai trái của mình thành thật khai báo, thực sự ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, bị cáo không chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Nhựt Đ, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2021/HS-ST ngày 30/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận quyết định:
1.Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Nhựt Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Nhựt Đ 01 (một")"năm tù, thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 16 tháng 9 năm 2021.
2. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Nhựt Đ không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 22/ 4/2022).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, CCTHA Hàm Tân; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Tổ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Thành |