vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Võ Thị L và ông Võ Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Giao con chung tên Võ Tuấn A, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2005, Võ Tuấn K, giới tính nam, sinh ngày 25/3/2009 cho bà Võ Thị L tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà L không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung. Bà L cùng các thành viên trong gia … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Võ Thị L xin ly hôn ông Võ Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Võ Thị L và ông Võ Thanh T là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày 30/12/2022
V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giang Phước Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Lệ Oanh.

2. Bà Trần Thị An.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang.

Ngày 30 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 165/2022/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2022 về việc “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị L, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Tổ M, khu phố K, thị trấn K, huyện K, Kiên Giang (nay là Tổ H, khu X, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang).

2. Bị đơn: Ông Võ Thanh T, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Ấp H, xã T, thành phố H, Kiên Giang;

Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 8 năm 2022 và trong quá trình giải quyết, bà Võ Thị L trình bày: Bà và ông Võ Thanh T chung sống như vợ chồng vào năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn. Lúc đầu chung sống hạnh phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, ông bà có tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không giải quyết được, tình cảm ngày càng rạng nứt, ông bà không còn chung sống cùng nhau từ năm 2015 cho đến nay. Hiện nay không thể hàn gắn để đoàn tụ về chung sống với nhau và nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Võ Thanh T.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Võ Tuấn A, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2005, Võ Tuấn K, giới tính nam, sinh ngày 25/3/2009. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông Tuấn cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Võ Thanh T có đơn xin vắng mặt, tại bản tự khai ngày 18/10/2022, ông T trình bày: Ông bà chung sống như vợ chồng vào năm 2004 nhưng không có đăng ký kết hôn. Chung sống lúc đầu có hạnh phúc, sau này phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, ông bà có tìm cách giải quyết mâu thuẫn nhưng không giải quyết được, tình cảm ngày càng rạng nứt, ông bà không còn chung sống cùng nhau từ năm 2015 cho đến nay. Hiện nay không thể hàn gắn để đoàn tụ về chung sống với nhau và nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên ông đồng ý ly hôn với bà Võ Thị L.

Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Võ Tuấn A, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2005, Võ Tuấn K, giới tính nam, sinh ngày 25/3/2009. Khi ly hôn, ông đồng ý giao cả hai con cho bà L nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn. Trong vụ án này bị đơn ông Võ Thanh T đang cư trú tại ấp H, xã T, thành phố H, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố H.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Võ Thị L, bị đơn ông Võ Thanh T đều có đơn xin vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung: Bà Võ Thị L và ông Võ Thanh T chung sống với nhau từ năm 2004, nhưng không đăng ký kết hôn. Ông bà chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà không được pháp luật công nhận. Tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, khoản 2 quy định “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần tuyên bố không công nhận bà Võ Thị L và ông Võ Thanh T là vợ chồng.

Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên Võ Tuấn A, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2005, Võ Tuấn K, giới tính nam, sinh ngày 25/3/2009, hiện nay hai con đang sống cùng bà L, khi ly hôn bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cả hai con đến tuổi trưởng thành, ông T cũng thống nhất giao cả hai con chung cho bà L nuôi dưỡng. Xét thấy nguyện vọng của cháu Tuấn A, Tuấn K là được sống cùng mẹ. Áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, nghị cần giao cả hai con chung cho bà L nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà L khởi kiện nên phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 14, 15, 53, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Võ Thị L và ông Võ Thanh T là vợ chồng.

- Về con chung: Giao con chung tên Võ Tuấn A, giới tính nam, sinh ngày 18/8/2005, Võ Tuấn K, giới tính nam, sinh ngày 25/3/2009 cho bà Võ Thị L tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận ý kiến bà L không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.

Bà L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông bà trình bày không có tài sản chung và không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí: Bà Võ Thị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai tạm ứng án phí số 0000695 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố H, nay bà L không phải nộp thêm.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự; người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ