vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L.

Về nuôi con chung: Chị Lê Thị Phương T được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 22-6-2010; anh Nguyễn Ngọc L được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 24-8-2008, đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc khi chị Lê Thị Phươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2022.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Nghĩa.

2. Bà Đỗ Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diến – Kiểm sát viên.

Vào ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 299/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2022/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Phương T, sinh năm: 1987. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 350/AĐ2, ấp A2, xã N, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Công nhân.

Dân tộc: Kinh.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1990. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Làm thuê.

Dân tộc: Kinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 14-4-2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Phương T trình bày:

Trên cơ sở tự nguyện, chị và anh Nguyễn Ngọc L tổ chức lễ cưới và sống chung năm 2007, đến năm 2009 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu, cuộc sống chung hạnh phúc, đến năm 2014 phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, từ năm 2016 đến nay vợ chồng không còn sống chung với nhau. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để sống chung nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Ngọc L.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Ngọc L có 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 24-8-2008, hiện đang sống với anh Nguyễn Ngọc L và Nguyễn Thị H, sinh ngày 22-6-2010 hiện đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Thị H; anh Nguyễn Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Ngọc C, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Vợ chồng không vay nợ ai và không ai nợ vợ chồng.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Ngọc L vắng mặt và không cung cấp lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa ý kiến:

Áp dụng Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các điều 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Phương T, về hôn nhân: Chị Lê Thị Phương T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc L; về con chung: Chị Lê Thị Phương T được trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 22-6-2010; anh Nguyễn Ngọc L trực tiếp nuôi dưỡng người con tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 24-8-2008, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tư cách tham gia tố tụng và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Phương T khởi kiện yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Ngọc L. Như vậy, chị Lê Thị Phương T là nguyên đơn, anh Nguyễn Ngọc L là bị đơn; anh Nguyễn Ngọc L có nơi thường trú tại ấp V, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai, như vậy Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai có thẩm quyền giải quyết.

Về thủ tục tố tụng:

Chị Lê Thị Phương T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên áp dụng Khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị; anh Nguyễn Ngọc L đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh vắng mặt tất cả các buổi làm việc, nên áp dụng Điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh.

Về quan hệ hôn nhân: Giấy chứng nhận kết hôn số 175, ngày 23-12-2009 Ủy ban nhân dân xã XH, huyện XL, tỉnh Đồng Nai, cấp cho chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L đúng quy định, nên quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L là hợp pháp.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Chị Lê Thị Phương T cho rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, anh Nguyễn Ngọc L không có trách nhiệm với gia đình, không yêu thương chị, hay mắng chửi và đánh chị. Chị không còn tình cảm với anh Nguyễn Ngọc L, nên chị yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Ngọc L.

Anh Nguyễn Ngọc L không đến Tòa làm việc, không cung cấp lời trình bày, không tham gia hòa giải để giải quyết mâu thuẫn, vợ chồng đoàn tụ. Như vậy thể hiện anh không còn quan tâm đến việc vợ chồng đoàn tụ sống chung; anh chị không còn sống chung từ năm 2016 đến nay. Chị Lê Thị Phương T sống với bố mẹ chị ở ấp A2, xã N, huyện B, tỉnh Bến Tre, còn anh Nguyễn Ngọc L sống tại Ấp V, xã X, huyện XL, tỉnh Đồng Nai. Chứng tỏ tình trạng hôn nhân của anh Nguyễn Ngọc L và chị Lê Thị Phương T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cho chị Lê Thị Phương T được ly hôn với anh Nguyễn Ngọc L là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung:

Chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L có 02 người con chung tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 24-8-2008 và Nguyễn Thị H, sinh ngày 22-6-2010, thời gian qua người con tên Nguyễn Thị H sống với chị Lê Thị Phương T, người con chung tên Nguyễn Ngọc C sống với anh Nguyễn Ngọc L. Chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L chăm sóc con đảm bảo. Chị Lê Thị Phương T yêu cầu sau khi ly hôn chị được trực tiếp nuôi người con tên Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Ngọc L là người trực tiếp nuôi người con tên Nguyễn Ngọc C, yêu cầu của chị trùng với nguyện vọng của các con và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, nên chấp nhận.

Chị Lê Thị Phương T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét; anh Nguyễn Ngọc L không có lời trình bày nên không xét.

Về tài sản:

Chị Lê Thị Phương T không yêu cầu giải quyết, nên không xét; anh Nguyễn Ngọc L không có lời trình bày nên không xét.

Về nợ chung:

Chị Lê Thị Phương T trình bày không có, nên không xét; anh Nguyễn Ngọc L không có lời trình bày nên không xét.

Về án phí:

Chị Lê Thị Phương T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc phát biểu ý kiến phù hợp với nhận định trên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Khoản 1, Điều 28; Điểm a, khoản 1, Điều 35; Khoản 1, Điều 39 và Khoản 1, Điều 228; Điểm b, khoản 2, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L.

2. Về nuôi con chung:

Chị Lê Thị Phương T được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Thị H, sinh ngày 22-6-2010; anh Nguyễn Ngọc L được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 24-8-2008, đến khi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động hoặc khi chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L có yêu cầu khác.

Tạm thời chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Lê Thị Phương T và anh Nguyễn Ngọc L được thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản, nhưng không được làm ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc và giáo dục con chung.

Khi xét thấy cần thiết, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc khoản cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ: Không giải quyết.

4. Về án phí:

Chị Lê Thị Phương T phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, tiền án phí sơ thẩm về ly hôn. 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí chị Lê Thị Phương T nộp theo Biên lai thu tiền số 0004953 ngày 14-4-2021, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ