vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Thanh L đối với bà Đỗ Thị H.

Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thanh Quân (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1986 và Trần Minh Chiến (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1988, đã trưởng thành. Về tài sản chung, nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của các đương sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THANH LIÊM - NGUYỄN THỊ HỒNG"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Thanh L đối với bà Đỗ Thị H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 8 - 2022
V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Chí Dũng

2. Ông Ngô Lê Tuấn Kiệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thanh Thảo, là thư ký tòa án của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 126/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 111/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Trần Thanh L, sinh năm 1965; nơi cư trú: ấp Nhơn Lộc 2, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

* Bị đơn: Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1967; nơi cư trú: ấp Nhơn Lộc 2, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13/12/2021 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Thanh Liêm trình bày: năm 1985, ông Liêm và bà Hồng tự nguyện chung sống nhưng không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, ông bà chung sống hạnh phúc nhưng sau đó ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống và về kinh tế, ông bà đã sống ly thân hơn 04 năm nay. Do tình cảm vợ chồng đã không thể hàn gắn được nên ông Liêm yêu cầu được ly hôn với bà Đỗ Thị Hồng. Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 người con chung là Trần Thanh Quân (giới tính nam)

- 1 -

sinh ngày 01/01/1986, Trần Minh Chiến (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1988, các con chung đã trưởng thành. Ông bà không có tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn bà Đỗ Thị Hồng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không nộp bản tự khai, vắng mặt tại phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến trình bày của đương sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Trần Thanh Liêm và bà Đỗ Thị Hồng tự nguyện chung sống vào năm 1985, không có đăng ký kết hôn. Nay một bên yêu cầu được ly hôn, bị đơn có nơi cư trú tại huyện Phong Điền nên Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Bị đơn Đỗ Thị Hồng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Trần Thanh Liêm và bà Đỗ Thị Hồng chung sống với nhau từ năm 1985 không có đăng ký kết hôn. Đối chiếu điểm a mục 3 Nghị Quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội thì quan hệ hôn nhân giữa ông Liêm và bà Hồng theo quy định pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nay ông Liêm xin ly hôn bà Hồng vì tình cảm vợ chồng không còn. Quá trình giải quyết vụ án bà Hồng vắng mặt không đến Tòa làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản cho bà Hồng theo quy định của pháp luật yêu cầu bà Hồng đến Tòa làm việc, tạo điều kiện cho bà Hồng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà Hồng vẫn vắng mặt. Xét thấy hôn nhân giữa ông Liêm và bà Hồng không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng. Do đó hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu ly hôn của ông Liêm là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: ông bà có 02 người con chung là Trần Thanh Quân (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1986, Trần Minh Chiến (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1988, các con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: nguyên đơn trình bày không có nhưng chưa ghi nhận được ý kiến của bị đơn. Do đó, tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của các đương sự.

Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

- 2 -

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị Quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Thanh L đối với bà Đỗ Thị H.

- Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thanh Quân (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1986 và Trần Minh Chiến (giới tính nam) sinh ngày 01/01/1988, đã trưởng thành.

- Về tài sản chung, nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của các đương sự.

- Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Liêm nộp 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0007275 ngày 05/05/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền thành án phí.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ