vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ái T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn B.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ái T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 04-11-2004 cho chị Trần Thị Ái T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Hồng N, sinh ngày 04-11-2006 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn: Trần Thị Ái Trinh; bị đơn: Nguyễn Văn Bình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ái T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16-5-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Bá Lộc.

2. Bà Nguyễn Thị Di.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2021/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ái T, sinh năm: 1975 (có mặt).

Hộ khẩu thường trú: Tổ 38, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: Tổ 18, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B, sinh năm: 1978 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Tổ 16, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở hiện nay: Tổ 18, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Ái T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ái T và anh Nguyễn Văn B chung sống và đăng ký kết hôn vào năm 2002, tại Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 76 ngày 30-7-2002 (Trích lục kết hôn số 411/TLKH-BS ngày 12-11-2021). Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống khá hạnh phúc, đôi khi trong cuộc sống hàng ngày cũng có mâu thuẫn nhỏ, nhưng vợ chồng đã giải quyết được để tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, qua một thời gian dài chung sống từ những mâu thuẫn nhỏ dồn nén ngày một lớn nên vợ chồng tiếp tục xảy ra mâu thuẫn, rạn nứt về tình cảm. Từ những mâu thuẫn liên quan đến tình cảm, kinh tế, tài chính lo cho cuộc sống gia đình, vợ chồng không có sự đồng cảm với nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống của cả hai bên. Mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm cũng như được gia đình hai bên hòa giải, thậm chí nhờ chính quyền địa phương can thiệp nhưng không giải quyết được. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh B.

- Về con chung và cấp dưỡng: Theo đơn khởi kiện chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 04-11-2004 và cháu Nguyễn Hồng N, sinh ngày 04-11-2006 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đồng ý giao cháu N cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng và không ai phải cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo Bản tự khai và trong quá trình tố tụng bị đơn anh Nguyễn Văn B trình bày:

Anh B xác nhận lời trình bày của chị T về việc chung sống, đăng ký kết hôn và con chung là đúng.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh B và chị T tự nguyện chung sống và kết hôn vào năm 2002, tại Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng quan điểm, cụ thể như tài chính chị T không minh bạch trong khi làm ăn và kinh doanh. Chị T có mối quan hệ không trong sáng và có mối quan hệ rất phức tạp dẫn đến vợ chồng cãi vã làm mất hạnh phúc gia đình và ảnh hưởng đến con cái. Xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên anh B đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị T.

- Về con chung và cấp dưỡng: Anh B yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng.

- Về tài sản chung: Yêu cầu Tòa án phân chia tài sản hiện hữu cho 04 người gồm vợ chồng và 02 con.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các điều 205, 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định tại các điều 225, 237 và 239 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự

- Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh B. Giao cháu Thảo cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Ngọc cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa chị T xác định yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con đối với anh B được xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Tại phiên tòa, anh B vắng mặt lần thứ hai, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc thay đổi người nuôi con là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và việc thay đổi không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh B tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Phước Hưng, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cấp giấy chứng nhận kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình tố tụng anh B và chị T thừa nhận sau khi kết hôn thời gian đầu chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung, nhưng thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách khác nhau. Mâu thuẫn xảy ra vợ chồng đã tìm cách hàn gắn cũng như được gia đình hai bên góp ý, hòa giải nhưng không giải quyết được nên chị T yêu cầu được ly hôn và anh B cũng đồng ý. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng là có thật mà không hàn gắn được cho thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn và nhân gia đình thì yêu cầu xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Theo đơn khởi kiện chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, không yêu cầu anh B cấp dưỡng. Tuy nhiên, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị T thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện đồng ý giao giao cháu N cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, cháu T có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu N có nguyện vọng được ở với cha, để tránh làm tổn thương cho các cháu nên giao cháu T chị T chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu N cho anh B chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp đúng nguyện vọng của các bên. Việc các bên không yêu cầu cấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu giải quyết, anh B yêu cầu chia tài sản hiện hữu, nhưng không làm đơn khởi kiện về việc chia tài sản chung nên không xem xét, giải quyết. Trường hợp anh B có yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

: Về nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 244, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Ái T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Văn B.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Ái T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

- Về con chung và cấp dưỡng: Giao cháu Nguyễn Thị Phương T, sinh ngày 04-11-2004 cho chị Trần Thị Ái T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giao cháu Nguyễn Hồng N, sinh ngày 04-11-2006 cho anh Nguyễn Văn B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

2. Án phí: Chị Trần Thị Ái T phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008584 ngày 11 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.

TM. HỘI ĐỔNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ