vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung Nguyễn Ngọc H2, sinh ngày 05 tháng 4 năm 2020 cho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Hải P, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2016 cho anh Nguyễn Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chị H và anh H1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày 23-8-2022
V/v ly hôn và nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Khúc Thị Minh

Bà Đặng Thị Đôi

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý Linh – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố H1 Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2022/QĐST- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T1, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 20 tháng 4 năm 2022 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện K, nguyên đơn là chị Phạm Thị Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Văn H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 06 tháng 11 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn anh, chị cùng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, anh H1 ghen tuông và có lần đánh chị H dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị H và anh H1 không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn H1.

Về con chung: Chị H khai vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hải P, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2016 và Nguyễn Ngọc H2 sinh ngày 05 tháng 4 năm 2020. Trường hợp ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H2 còn đồng ý để anh H1 nuôi dưỡng cháu P. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị H tự thỏa thuận với anh H1, do vậy không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị H để tự thỏa thuận với anh H1, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng đến ngày Tòa án mở phiên tòa xét xử lần thứ hai anh H1 vẫn vắng mặt tại Tòa án, tuy nhiên trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án anh H1 cũng đã có ý kiến đồng ý với lời khai của chị H về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng cũng như về con cái và tài sản chung. Nay chị H có đơn xin ly hôn với anh thì anh H1 cho rằng mẫu thuẫn giữa anh và chị H chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt, vẫn còn tình cảm vợ chồng và không đồng ý ly hôn. Trong trường hợp ly hôn anh H1 đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Hải P và đồng ý để chị H nuôi cháu Nguyễn Ngọc H2, về cấp dưỡng nuôi con chung để anh H1 và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công nợ chung, anh H1 đề nghị để tự thỏa thuận với chị H, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Văn H1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh H1. Về con chung, giao con là Nguyễn Ngọc H2 cho chị H nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Hải P cho anh H1 nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi; về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị H và anh H1 tự thỏa thuận giải quyết nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét; về tài sản chung do chị H không yêu cầu giải quyết, nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 đã được Toà án triệu: tập hợp lệ để anh H1 có mặt tại Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chị Phạm Thị Thu H có đơn xin ly hôn nhưng anh H1 vắng mặt tại phiên tòa hai lần không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn H1.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Thu H và anh Nguyễn Văn H1 được xác định là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải xong không cải thiện được mà ngày càng căng thẳng hơn. Chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân chị H và anh H1 không còn quan tâm đến nhau nữa. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh H1 phù hợp với lời khai của chị H, anh H1. Chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1, anh H1 không đồng ý lý hôn nhưng không có mặt tại Tòa án theo giấy triệu tập của Tòa án và vắng mặt tại các buổi hòa giải cũng như tại phiên tòa xét xử. Như vậy thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã trầm trọng, khả năng vợ chồng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn với anh H1.

Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là Nguyễn Hải P sinh ngày 31 tháng 5 năm 2016 và Nguyễn Ngọc H2 sinh ngày 05 tháng 4 năm 2020. Trường hợp ly hôn chị H đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H2 vì hiện nay cháu H2 còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần sự chăm sóc của mẹ và đồng ý để anh H1 nuôi dưỡng cháu P. Anh H1 vắng mặt nhưng cũng đã có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung phù hợp với đề nghị của chị H. Như vậy, cần chấp nhận đề nghị của chị H, giao cháu Nguyễn Ngọc H2 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Hải P cho anh H1 nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị H, anh H1 đề nghị để tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Chị H, anh H1 khai vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung Nguyễn Ngọc H2, sinh ngày 05 tháng 4 năm 2020 cho chị Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Hải P, sinh ngày 31 tháng 5 năm 2016 cho anh Nguyễn Văn H1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

2.2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai số 0002032 ngày 02/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K, thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Thu H có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH1 thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ