vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Trương Văn Ngh, sinh ngày 01/3/2015 và Trương Văn S, sinh ngày 01/01/2018. Giao cả 02 cháu Ngh và S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ tuổi thành niên. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền, Ngh vụ thăm nom và chăm sóc con … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D xin LH anh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM THUỶ
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 05/7/2022.
V/v: Tranh chấp ly hôn
và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ Ngh VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM THUỶ, TỈNH THANH HÓA

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Ánh Tuyết. Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tiếp và bà Nguyễn Thị Tiếp. -Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền – Thư ký TAND huyện Cẩm Thuỷ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXX-ST, ngày 27 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2022/QĐST, ngày 17/6/2021 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D

sinh năm 1995. Hộ khẩu thường trú: Thôn Th, xã C, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: Thôn Th, xã C, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Có mặt. 2. Bị đơn:

Anh Trương Văn H

sinh năm 1993 Trú tại: Thôn Th, xã C, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Vắng mặt. ơ

NỘI D VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 10/12/2021 và bản tự khai cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn là chị Bùi Thị D trình bày: Chị và anh Trương Văn H tự nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 19/3/2015. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2019, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H có mối quan hệ với một người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.

Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là cháu Trương Văn Ngh, sinh ngày 01/3/2015 và cháu Trương Văn S, sinh ngày 01/01/2018. Hiện nay 02 cháu đang ở cùng với chị D, nay ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Chị Bùi Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trương Văn H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi Giấy triệu tập cho anh, nhưng anh vắng mặt không có lý do, không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Tại biên bản xác minh đối với người thân của anh H là bà Phạm Thị Đ (Mẹ đẻ của anh H). Bà Đ cho biết: Anh H và chị D sau khi kết hôn sống chung cùng với gia đình bà. Trong cuộc sống bà không thấy anh H và chị D có mâu thuẫn gì, nhưng không hiểu lý do vì sao vào đêm 30 giao thừa tết năm 2019 anh H bỏ nhà đi. Đến ngày 24 tháng giêng (âm lịch) chị D cùng 02 con nói về nhà ngoại ngủ chơi rồi từ đó không về nhà nữa. Sau đó, anh H cũng đi làm việc trong miền nam luôn và thường xuyên liên lạc về với gia đình. Nay chị D làm đơn xin ly hôn gia đình cũng không mong muốn các con bỏ nhau, nhưng nếu chị D cương quyết ly hôn thì do chị D Quyết định. Anh H điều kiện đi làm xa do dịch Covid 19 chưa thể về được mong Tòa án xem xét giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật. Bà Đ đã nhận giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bà Đ đã cam kết giao lại cho anh H.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Thủy: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Đề nghị xử cho chị Bùi Thị D ly hôn anh Trương Văn H.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Trương Văn Ngh, sinh ngày 01/3/2015 và Trương Văn S, sinh ngày 01/01/2018. Giao cả 02 cháu Ngh và S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ tuổi thành niên. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Bùi Thị D làm đơn khởi kiện xin ly hôn đối với bị đơn anh Trương Văn H trú tại: Thôn Th, xã C, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, quy định tại điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt: Anh Trương Văn H hiện không có mặt tại địa phương, không đến Tòa án làm việc. Kết quả xác minh tại Công an xã C, anh H có hộ khẩu thường trú tại địa phương, anh đang đi làm ăn nhưng không có địa chỉ cụ thể, thỉnh thoảng anh vẫn về quê, anh H đi không khai báo cho chính quyền địa phương biết. Căn cứ vào khoản 3 điều 40; điểm b khoản 2 điều 277 của BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ-HĐTP, ngày 05/5/2017 của HĐTP Tòa án nhân dân tối cao thì địa chỉ cuối cùng của bị đơn theo hộ khẩu thường trú là thôn Th, xã C, huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa.

Anh H đã được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Các thủ tục tố tụng đã được đã tiến hành đảm bảo theo quy định tại khoản 5 điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào điểm b khoản 2 điều 227- Bộ luật TTDS. Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy tiến hành xét xử vắng mặt anh H. Bị đơn không nộp văn bản ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm Ngh vụ giao nộp chứng cứ và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Cẩm Thủy nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại điều 9 – Luật hôn nhân gia đình. Trong quá trình chung sống, giữa chị D và anh H phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con. Chị và anh đã ly thân từ năm 2019 đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên yêu cầu của chị D là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại điều 51 và điều 56 – Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị D và anh H có 02 con chung Trương Văn Ngh, sinh ngày 01/3/2015 và Trương Văn S, sinh ngày 01/01/2018. Hiện nay, 02 con đang ở với chị, chị có nguyện vọng được nuôi cả 02. Xét nguyện vọng nuôi con của chị D là chính đáng, cháu Ngh có nguyện vọng ở với mẹ, cháu S chưa đủ 07 tuổi nên Tòa án không thể hỏi được nguyện vọng của cháu. Để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con nên giao cả 02 cháu Ngh và S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ tuổi thành niên là phù hợp. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu, nên không xem xét

Về án phí: Chị D phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1 điều 96, khoản 4 điều 147, khoản 5 điều 177, điểm b khoản 2 điều 227 và điều 273 Bộ luật TTDS. Điều 51, điều 56, điều 57, điều 81, 82 và 83 - Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Toà án của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xử cho chị Bùi Thị D được ly hôn anh Trương Văn H.

2. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung Trương Văn Ngh, sinh ngày 01/3/2015 và Trương Văn S, sinh ngày 01/01/2018. Giao cả 02 cháu Ngh và S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con đủ tuổi thành niên. Chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Anh H có quyền, Ngh vụ thăm nom và chăm sóc con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu, nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí DSST được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0010277, ngày 10/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ