vanban.org

Bản án 43/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Anh T đối với anh Nguyễn Quốc T1.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/5/2021cho chị Phạm Thị Anh T được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa chị Phạm Thị Anh T và anh Nguyễn Quốc T1"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Anh T đối với anh Nguyễn Quốc T1.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA TRI
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20/5/2022
V/v: “xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mộng Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Xuân Tùng

Bà Lê Thị Mỹ Lệ

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Yến Linh – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân sơ thẩm thụ lý số: 125/2022/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2022 về việc “xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2022/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Anh T, sinh năm 1999.

Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre

2/ Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1999.

Địa chỉ: ấp X, xã Y, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

(Nguyên đơn chị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh T1 vắng mặt lần 02 không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/02/2022 nguyên đơn chị Lê Thị Hồng T trình bày:

Chị và anh T1 cưới nhau vào năm 2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Ba Tri vào ngày 16/3/2021. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 11 năm 2021 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm sống làm tình cảm vợ chồng rạn nứt, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải được nên vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn với anh T1.

Về con chung: trong thời gian chung sống chị và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/5/2021, hiện con chung đang do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị xin nuôi con chung, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn Nguyễn Quốc T1, Tòa án có tống đạt các thông báo cho anh T1 tham gia hòa giải giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh T1 đều vắng mặt không có lý do, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh T1 và vụ án không tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thấy rằng Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng; thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư khách quan, độc lập khi xét xử; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1. Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng anh chị có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/5/2021. Khi ly hôn chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Xét con chung đang do chị T nuôi dưỡng, có cuộc sống ổn định với chị T, cháu Q chưa tròn 36 tháng tuổi đề nghị để con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thủ tục: tại phiên toà, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn mặc d đã được tống đạt hợp lệ nhưng tại phiên toà v n vắng mặt. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là ph hợp với quy định tại các điều 227, 228 BLTTDS.

Về nội dung:

Về hoân nhaân: chị Phạm Thị Anh T và anh Nguyễn Quốc T1 cưới nhau vào năm 2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện Ba Tri vào ngày 16/3/2021. Do đó, hôn nhân của chị T và anh T1 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên mâu thuẩn cải vả nhau, d n đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, trong thời gian ly thân thì hai bên cũng không thể hòa giải hàn gắn được. Nay chị T xác định không còn tình cảm và không thể hàn gắn nên chị T yêu cầu xin ly hôn với anh T1 và trong quá trình tố tụng Tòa án đã nhiều lần mời anh T1 đến Tòa để hòa giải nhưng anh T1 không đến Tòa để hòa giải hàn gắn hay có ý kiến gì về yêu cầu xin ly hôn của chị T. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị T và anh T1 đã mâu thu n trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ, ph hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận

Về con chung: trong thời gian chung sống chị và anh T1 có 01 con chung là Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/5/2021, hiện con chung đang do chị T nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị T xin nuôi con chung, chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung. Xét yêu cầu chị T có căn cứ ph hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.

Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết

Về nợ chung: không có.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Ba Tri là ph hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nguyên đơn chị T phải nộp theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toaø aùn.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 59, 81,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Anh T đối với anh Nguyễn Quốc T1.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh Q, sinh ngày 17/5/2021cho chị Phạm Thị Anh T được quyền tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận chị T tự nguyện không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp anh T1 lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp của con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung : Không yêu cầu giải quyết.

4. Về nợ chung: Không có.

5 . Về án phí hôn nhân sơ thẩm: 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), nguyên đơn chị T phải nộp. Chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003823 ngày 11/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Án phí hôn nhân chị T đã nộp xong

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Baùo cho nguyên đơn, bị đơn bieát coù quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm. Nôi nhaän:

Cỡ chữ