vanban.org

Bản án 43/2022/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H.

Buộc bà Trần Thị H phải trả cho chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H số tiền nợ hụi 124.000.000đồng (một trăm, hai mươi bốn triệu đồng). Thực hiện nghĩa vụ trả khi án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t số tiền 76.000.000đồng, còn lại 48.000.000đồng mỗi tháng trả 8.000.000đồng cho đến khi hết nợ, bắt … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "vu an tranh chap hui giua H va H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 357 Bộ luật Dân sự; Điều 471 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHƯỚC
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2022/DS-ST
Ngày: 27/7/2022.
V/v: Tranh chấp "hợp đồng
góp hụi."

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Tân

Ông Nguyễn Thanh Dũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Thành - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu – Kiểm sát viên

Trong ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 44/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp "hợp đồng góp hụi" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐXX-ST ngày 11 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1- Ông Bùi Thanh H, sinh năm 1975

2- Bà Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1977

Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1970

Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh T.

- Hai bên đương sự có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

+ Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H trình bày: Vợ chồng tôi có làm chủ hụi và chị H có tham gia hụi do vợ chồng tôi làm chủ hụi, cụ thể như sau:

Dây 1: Hụi 2.000.000đồng/phần, hụi khui vào ngày 10/11/2019 (âm lịch), hụi một tháng khui một lần, gồm 30 phần, bà H tham gia 01 phần. Bà H đã hốt hụi vào kỳ khui hụi thứ 2, số tiền hốt hụi là 43.200.000đồng. Sau khi hốt hụi bà H có đóng hụi chết được 22 lần, còn nợ lại 6 lần chưa đóng với tổng số tiền là 12.000.000đồng.

Dây 2: Hụi 2.000.000đồng/phần, hụi khui vào ngày 15/12/2020 (âm lịch), hụi một tháng khui một lần, gồm 26 phần, bà H tham gia 02 phần. Bà H đã hốt hụi vào kỳ khui hụi thứ nhất và lần thứ 3, số tiền hốt hụi lần nhất là 35.450.000đồng, lần 2 là 37.010.000đồng. Sau khi hốt hụi bà H có đóng hụi chết được 7 lần, còn nợ lại 16 lần chưa đóng của 02 phần hụi với tổng số tiền là 64.000.000đồng (mỗi phần nợ 32.000.000đồng).

Dây 3: Hụi 2.000.000đồng/phần, hụi khui vào ngày 25/8/2020 (âm lịch), hụi một tháng khui một lần, gồm 26 phần, bà H tham gia 02 phần. Bà H đã hốt hụi vào kỳ khui hụi thứ nhất và lần thứ 2, số tiền hốt hụi lần nhất là 35.200.000đồng, lần 2 là 36.000.000đồng. Sau khi hốt hụi bà H có đóng hụi chết được 12 lần, còn nợ lại 12 lần chưa đóng của 02 phần hụi với tổng số tiền là 48.000.000đồng (mỗi phần nợ 24.000.000đồng).

Tổng cộng 03 dây hụi bà H còn nợ 124.000.000đồng. Nay yêu cầu bà H trả 124.000.000đồng

+ Bị đơn bà Trần Thị H trình bày: Thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn về việc tham gia hụi và số nợ hụi như trên. Nay đồng ý trả cho nguyên đơn 124.000.000đồng. Xin trả dần mỗi tháng là 4.000.000đồng.

* Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H yêu cầu bà Trần Thị H phải trả số tiền 124.000.000 đồng tiền hụi. Yêu cầu trả khi án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t số tiền 76.000.000đồng, còn lại 48.000.000đồng yêu cầu mỗi tháng trả 8.000.000đồng cho đến khi hết nợ, bắt đầu trả vào ngày 27/8/2022.

- Bị đơn bà Trần Thị H đồng ý trả cho chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H số tiền 124.000.000đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng là 4.000.000đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Hội đồng xét thấy theo đơn khởi kiện và yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H tại phiên tòa, thì chị S và anh H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Phước giải quyết buộc bà Trần Thị H phải trả số tiền 124.000.000 đồng tiền hụi. Bà Trần Thị H hiện cư trú tại ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh T. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước theo qui định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và quan hệ pháp luật tranh chấp là "tranh chấp về hợp đồng dân sự góp hụi" qui định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và điều 471 của Bộ luật dân sự.

Về việc thay đổi yêu cầu khởi kiện: Hội đồng xét xử xét thấy tại Đơn khởi kiện ngày 01/4/2022, nguyên đơn chị S và anh H yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ hụi là 300.000.000 đồng. Tại biên bản hòa giải ngày 11/7/2022 nguyên đơn chị S và anh H yêu cầu bà H phải trả số tiền nợ hụi là 124.000.000 đồng. Như vậy chị S và anh H đã thay đổi yêu cầu khởi kiện và việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị S và anh H là không vượt quá phạm vi khởi kiện yêu cầu ban đầu theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dận sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của chị S và anh H và tiếp tục việc giải quyết vụ án.

Về nội dung: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H yêu cầu bà Trần Thị H phải trả cho anh, chị số tiền 124.000.000 đồng tiền hụi. Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H đối với số tiền nợ hụi là có cơ sở chấp nhận, bởi lẽ: Bà H có tham gia 03 dây hụi do chị S và anh H làm chủ hụi, quá trình thực hiện hụi bà H còn nợ chị S và anh H số tiền 124.000.000đồng đến nay chưa trả.

Hội đồng xét xử xét thấy, chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H khởi kiện bà Trần Thị H phải trả cho anh chị số tiền nợ hụi là 124.000.000 đồng. Chị S và anh H có giao nộp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện là 10 Giấy giao hụi và danh sách hụi (bản photo) thể hiện việc chơi hụi, số lượng hụi viên tham gia...được bà H thừa nhận. Do đó chị S và anh H đã có chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là hợp pháp theo qui định tại khoản 1 điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo qui định tại khoản 2 điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự qui định "Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó". Trong vụ án này bà H không có sự phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị S và anh H và thừa nhận việc chơi hụi và nợ hụi như chị S và anh H đã xác định. Do đó có cơ sở xác định hợp đồng góp hụi giữa chị S và anh H với bà H đã được xác lập hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia thực hiện kể từ khi xác lập. Chị S và anh H có làm chủ hụi và bà H có tham gia hụi, thỏa thuận hụi viên hốt hụi, chủ hụi phải có nghĩa vụ gom hụi và giao hụi, đồng thời được hưởng tiền huê hồng. Hụi viên hốt hụi xong phải có nghĩa vụ đóng lại hụi chết đầy đủ. Bà H có nợ hụi chị S và anh H số tiền 124.000.000đồng đến nay chưa trả. Vi vâ ̣̀ y chị S và anh H khở i kiê ̣n là có căn cứ , Hô ̣i đồng xét xử chấp nhâ ̣n đối với số tiền nợ hụi được xác định là 124.000.000đồng. Do đó, Hội đồng xét xử buô ̣c bà Trần Thị H phải có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H số tiền nợ hụi 124.000.000đồng là phù hợp với điều 471 của Bộ luật dân sự.

Về thời gian trả: Tại phiên Tòa hôm nay chị S và anh H yêu cầu bà H phải trả cho anh chị số tiền nợ hụi 124.000.000đồng, khi án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t trả số tiền 76.000.000đồng, còn lại 48.000.000đồng yêu cầu mỗi tháng trả 8.000.000đồng cho đến khi hết nợ, bắt đầu trả vào ngày 27/8/2022. Bà H xin trả mội tháng là 4.000.000đồng. Hội đồng xét xử xét thấy bà H đã vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự. Chị S và anh H đã yêu cầu bà H trả tiền nhiều lần nhưng bà H vẫn không trả mà kéo dài thời gian trả nợ, gây nhiều thiệt thòi về quyền lợi cho chị S và anh H. Do đó Hội đồng xét xử buộc bà H phải có nghĩa vụ trả cho chị S và anh H số tiền nợ hụi 124.000.000đồng theo thời gian yêu cầu của chị S và anh H là phù hợp.

Về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Ngày 24/5/2022 Tòa án có ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2022/QĐ-BPKCTT với nội dung: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ quy định tại Khoản 11 Điều 114 và Điều 126 của Bộ luật tố tụng dân sự: Phong tỏa quyền sử dụng đất của bà Trần Thị H, gồm thửa đất sau: Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 00, diện tích 120m2, loại đất ở nông thôn, do bà Trần Thị H đang đứng tên quyền sử dụng đất, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang cấp ngày 26/9/2019, số giấy CT 384316, số vào sổ cấp giấy CS01221; tọa lạc tại ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh T.

Xét thấy các bên chưa thực hiện xong nghĩa vụ giao trả nợ, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án và thi hành án Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2022/QĐ-BPKCTT ngày 24/5/2022 của Tòa án. Việc thay đổi, áp dụng bổ sung hoặc hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2022/QĐ-BPKCTT ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước sẽ được thực hiện theo quy định tại điều 137, 138 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về án phí: Bi ̣ đơn bà Trần Thị H phải chi ̣u án phi dân sự sơ thẩḿ theo quy định tại khoản 2 điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xét lời đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù họp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Điều 471, khoản 2 điều 357 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H.

- Buộc bà Trần Thị H phải trả cho chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H số tiền nợ hụi 124.000.000đồng (một trăm, hai mươi bốn triệu đồng). Thực hiện nghĩa vụ trả khi án có hiê ̣u lực pháp luâ ̣t số tiền 76.000.000đồng, còn lại 48.000.000đồng mỗi tháng trả 8.000.000đồng cho đến khi hết nợ, bắt đầu trả vào ngày 27/8/2022.

Kể từ ngày chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bà Trần Thị H chậm trả tiền thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại 357, điều 468 của Bộ luật dân sự, tại thời điểm thanh toán.

2. Việc thay đổi, áp dụng bổ sung hoặc hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2022/QĐ-BPKCTT ngày 24/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước sẽ được thực hiện theo quy định tại điều 137, 138 của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Trần Thị H phải chịu 6.200.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Hồng S và anh Bùi Thanh H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh chị đa nô ̣̃ p 7.500.000 đồng theo biên lai thu số 0003031 ngày 27/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.

4. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được thực hiện quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhân:

Cỡ chữ