vanban.org

Bản án 43/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lâm Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn thi hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2021. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Anh T, Nguyễn Duy C (Th) bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lâm Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn thi hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN CHÂU
TỈNH TÂY NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2021/HS-ST
Ngày 08-7-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm My.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thay;

Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu tham gia phiên tòa:

Ông Trần Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Lâm Anh T, sinh năm 1984 tại Tây Ninh. Nơi cư trú: ấp Z, xã S, huyện T, tỉnh N; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn Th1 (sinh năm 1955) và bà Vũ Thị Th2 (sinh năm 1953); vợ tên Hoàng Phương Ngọc L (đã ly hôn), con: 01 người sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2021, đến ngày 05/3/2021 được thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Duy C (Th), sinh năm 1970 tại thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh N; nghề nghiệp: Buôn bán phế liệu; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy Th3 (đã chết) và bà Đỗ Thị H (sinh năm 1945); vợ tên Nguyễn Thị Ch con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 12/12/2000, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 08 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”. Ngày 31/8/2004 chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/4/2021 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp Y, xã S, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

2. Ông Hồ Quốc Ch2, sinh năm 1962. Địa chỉ: ấp Y, xã S, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

3. Anh Võ Thanh T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: ấp Y, xã S, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

4. Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986. Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

5. Anh Trần Đình S, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp Th, xã T, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

6. Anh Nguyễn Văn Ch3, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp Th, xã T, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

7. Ông Nguyễn Văn Th4, sinh năm 1968. Địa chỉ: ấp Th, xã H, huyện T, tỉnh N; (vắng mặt)

8. Anh Trần Trọng A, sinh năm 1980. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện T, tỉnh N. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Anh T (làm nghề cạo mủ cao su) và Nguyễn Duy C (làm nghề thu mua phế liệu) đã quen biết với nhau từ trước. Ngày 18/12/2020, do T đang bị bệnh không đi cạo mủ cây cao su thuê cho người khác được nên chuẩn bị 06 cờ lê, 01 cây xà beng và 01 cây rựa để trong giỏ xách với mục đích làm dụng cụ đi trộm mô tơ bơm nước và đầu bơm nước máy dầu của người dân để ở những khu vực đất rẫy vắng, không người trông coi trên địa bàn huyện T. Từ ngày 23/12/2020 đến ngày 04/01/2021, T đã thực hiện 06 vụ trộm, cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 23/12/2020, T điều xe mô tô biển số 70H8-3922 đến khu vực rẫy mì thuộc địa bàn ấp Y, xã S, huyện T, lấy trộm 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 3” của chị Nguyễn Thị Kim Y; 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 4” của anh Hồ Quốc Ch2 và 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 5” của anh Võ Thanh T1 mang về bán cho C được 300.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

- Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 24/12/2020, T điều xe mô tô biển số 70H8-3922 đến khu vực rẫy mì thuộc địa bàn ấp A, xã T, huyện T, lấy trộm 01 mô tơ bơm nước loại 2,5HP của anh Nguyễn Văn L mang về bán cho C được 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

- Vụ thứ ba: Khoảng 11 giờ ngày 25/12/2020, T điều xe mô tô biển số 70H8-3922 đến khu vực rẫy mãng cầu thuộc địa bàn ấp Th, xã T, huyện T, lấy trộm 01 mô tơ bơm nước loại 2HP của anh Trần Đình S mang về bán cho C được 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

- Vụ thứ tư: Khoảng 11 giờ ngày 29/12/2020, T điều xe mô tô biển số 70H8-3922 đến khu vực rẫy mì thuộc địa bàn ấp Th, xã H, huyện T, lấy trộm 02 mô tơ bơm nước loại 2HP của anh Nguyễn Văn Ch3 mang về bán 01 mô tơ cho C được 500.000 đồng, còn lại 01 mô tơ cất giấu đến ngày 31/12/2020, tiếp tục mang đi bán cho C được 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

- Vụ thứ năm: Vào ngày 30/12/2020, T điều xe mô tô biển số 70H8-3922 đến khu vực rẫy mì thuộc địa bàn ấp Th, xã H, huyện T, lấy trộm 01 mô tưa bơm nước loại 2HP của anh Nguyễn Văn Th4, mang về bán cho C được 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân.

- Vụ thứ sáu: Khoảng 11 giờ ngày 04/01/2021, T điều xe mô tô biển số 70H8-3922 đến khu vực rẫy mì thuộc địa bàn ấp Hội Thạnh, xã H, huyện T, lấy trộm 01 mô tơ bơm nước loại 2HP của anh Trần Trọng A, thì bị anh A phát hiện truy đuổi bắt giữ T cùng tang vật lúc 12 giờ cùng ngày.

Quá trình điều tra, Lâm Anh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, Nguyễn Duy C không thừa nhận kêu T đi trộm mô tơ về bán cho C nhưng biết số mô tơ, đầu bơm nước T bán cho C là do T trộm mà có.

* Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 3” trị giá 767.000 đồng; 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 4” trị giá 800.000 đồng; 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 5” trị giá 867.000 đồng; 01 mô tơ bơm nước loại công suất 02HP giá 1.500.000 đồng (tài sản của Nguyễn Văn L); 01 mô tơ bơm nước loại công suất 2,5HP giá 1.700.000 đồng (tài sản của Trần Đình S); 01 mô tơ bơm nước loại công suất 02HP giá 1.500.000 đồng (tài sản của Nguyễn Văn Th4); 02 mô tơ bơm nước loại công suất 02HP giá 1.500.000 đồng x 2 = 3.000.000 đồng (tài sản của Nguyễn Văn Ch3); 01 mô tơ bơm nước loại công suất 02HP giá 1.500.000 đồng (tài sản của Trần Trọng A). Tổng tài sản T trộm cắp trị giá 11.634.000 đồng.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 03 đầu bơm nước loại Văn Thể 3, 4, 5; 05 mô tơ bơm nước loại công suất 02HP; 01 mô tơ bơm nước loại công suất 2,5HP đã trả lại cho anh Trần Trọng A, Nguyễn Văn Ch3, Trần Đình S, Nguyễn Văn Th4, Nguyễn Văn L, Hồ Quốc Ch2, Võ Thanh T1 và chị Nguyễn Thị Kim Y là chủ sở hữu hợp pháp. Vật chứng còn lại gồm 01 xe mô tô biển số 70H8-3922; 06 cờ lê; 01 thanh kim loại dài 82cm; 01 cây rựa có chiều dài 56cm và 01 giỏ xách nhựa màu xanh.

* Kê biên tài sản: 01 thửa đất số 10, tờ bản đồ số 91, diện tích 434,4m2 tọa lạc tại ấp Z, xã S, huyện T của Lâm Anh T và 01 thửa đất số 276, tờ bản đồ số 50, diện tích 420,1m2 tọa lại tại ấp H, xã H, huyện T của Nguyễn Duy C.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Trọng A, Nguyễn Văn Ch3, Trần Đình S, Nguyễn Văn Th4, Nguyễn Văn L, Hồ Quốc Ch2, Võ Thanh T1 và chị Nguyễn Thị Kim Y đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSTC ngày 11/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Lâm Anh T, Nguyễn Duy C (Th) về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Lâm Anh T, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Bị cáo Nguyễn Duy C khai nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo cho rằng không xúi giục, kêu bị cáo T đi trộm mô tơ, máy bơm nước về bán cho bị cáo như bị cáo T trình bày, nên bị cáo phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, không phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Anh T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C (Th) từ 12 (mười hai) đến 15 (mười lăm) tháng tù. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, các bị cáo hối lỗi, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Anh T, bị cáo Nguyễn Duy C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ xác định:

Do không có tiền tiêu xài, nên từ ngày 23/12/2020 đến ngày 04/01/2021 trên địa bàn xã H, Lâm Anh T đã nhiều lần lén lút lấy trộm tài sản bán cho Nguyễn Duy C. Cụ thể:

Ngày 23/12/2020, T lấy trộm 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 3” của chị Nguyễn Thị Kim Y trị giá 767.000 đồng; 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 4” của anh Hồ Quốc Ch2 trị giá 800.000 đồng và 01 đầu bơm nước loại “Văn Thể 5” của anh Võ Thanh Tân trị giá 867.000 đồng.

Ngày 24/12/2020, lấy trộm 01 mô tơ bơm nước loại 2,5HP của anh Nguyễn Văn L trị giá 1.500.000 đồng.

Ngày 25/12/2020, T lấy trộm 01 mô tơ bơm nước loại 2HP của anh Trần Đình S trị giá 1.700.000 đồng.

Ngày 29/12/2020, T lấy trộm 02 mô tơ bơm nước loại 2HP của anh Nguyễn Văn Ch3 trị giá 3.000.000 đồng.

Ngày 30/12/2020, lấy trộm 01 mô tưa bơm nước loại 2HP của anh Nguyễn Văn Th4 trị giá 1.500.000 đồng.

Ngày 04/01/2021, T lấy trộm 01 mô tơ bơm nước loại 2HP của anh Trần Trọng A trị giá 1.500.000 đồng, thì bị phát

Tổng cộng: Lâm Anh T đã thực hiện 06 vụ trộm, chiếm đoạt số tài sản có tổng giá trị là 11.434.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Duy C (Th) tuy không xúi giục bị cáo T trộm tài sản, không trực tiếp tham gia nhưng biết rõ số mô tơ, máy bơm nước này là do bị cáo T trộm cắp mà có nhưng vẫn nhiều lần mua lại, giúp bị cáo T tiêu thụ tài sản nên xác định C (Th) là đồng phạm giúp sức tích cực cho bị cáo T trong vụ án.

Do đó, có đủ căn cứ xác định, bị cáo Lâm Anh T, bị cáo Nguyễn Duy C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và còn ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra.

Về tính chất vụ án và mức độ phạm tội của từng bị cáo thì thấy rằng:

Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo T là người trực tiếp 06 lần thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Bị cáo C (Th) tuy không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng là người giúp sức tích cực cho bị cáo T tiêu thụ tài sản do trộm cắp mà có được, nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội bị cáo gây ra.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng cho các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi, trong đó có 02 lần phạm tội có giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng nên chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Nguyễn Duy C (Th) có nhân thân xấu, từng bị kết án về hành vi “Hiếp dâm trẻ em”. Gia đình bị cáo cung cấp chứng cứ chứng minh bị cáo mắc bệnh gai cột sống, u sơ xương, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là điều kiện hoãn thi hành án, không phải là tình tiết giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo còn trình bày có người thân là người có công với cách mạng, tham gia chống Mỹ cứu nước nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận. Bởi lẽ, các bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật cần áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không có giá trị sử dụng là:

+ 06 (Sáu) cái cờ lê (trong đó có 02 cái cờ lê 19, 02 cái cờ lê 13, 02 cái cờ lê 17);

+ 01 thanh kim loại dài 82cm;

+ 01 cây rựa có chiều dài 56cm;

+ 01 giỏ xách nhựa màu xanh.

- Đối với 01 (Một) xe mô tô biển số 70H8-3922, số máy LC152FMG-1-A *00428013*; số khung: bị đục xóa do đó giao cho Công an huyện Tân Châu xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về bồi thường thiệt hại: Bị hại là chị Nguyễn Thị Kim Y, ông Hồ Quốc Ch2, anh Võ Thanh T1, anh Nguyễn Văn L, anh Trần Đình S, anh Nguyễn Văn Ch3, ông Nguyễn Văn Th4, anh Trần Trọng A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về án phí: Bị cáo Lâm Anh T và Nguyễn Duy C (Th) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điềm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lâm Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn thi hành án tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2021 đến ngày 05/3/2021.

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điềm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/4/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 06 (Sáu) cái cờ lê (trong đó có 02 cái cờ lê 19, 02 cái cờ lê 13, 02 cái cờ lê 17);

+ 01 thanh kim loại dài 82cm;

+ 01 cây rựa có chiều dài 56cm;

+ 01 giỏ xách nhựa màu xanh.

- Giao cho Công an huyện Tân Châu xử lý theo quy định của pháp luật đối với 01 (Một) xe mô tô biển số 70H8-3922, số máy LC152FMG-1-A *00428013*; số khung: bị đục xóa.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dâu sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/5/2021).

- Ghi nhận bị hại là chị Nguyễn Thị Kim Y, ông Hồ Quốc Ch2, anh Võ Thanh T1, anh Nguyễn Văn L, anh Trần Đình S, anh Nguyễn Văn Ch3, ông Nguyễn Văn Th4, anh Trần Trọng A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì khác.

3. Về án phí: Bị cáo Lâm Anh T và bị cáo Nguyễn Duy C (Th) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ