vanban.org

Bản án 43/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 09/07/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho chính quyền địa phương UBND xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội "Tàng trữ hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM XUYÊN
TỈNH HÀ TĨNH
Bản án số: 43/2021/HSST
Ngày: 09/7/2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đức Đống

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Hữu Tường; ông Phan Công Lợi

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên Toà: Bà Trần Thị Diệu Thúy- Thư ký TAND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện VKSND huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên Toà: Bà Nguyễn Thị Lê, Kiểm sát viên.

Chiều ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 36/2021/HSST ngày 11/6/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021 ngày 23/6/2021 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L; Sinh ngày 02/02/1991. Tại: xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký HKTT và chổ ở: thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam;Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; Con ông: Nguyễn Thanh M; Sinh năm 1949 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Khai; Sinh năm 1954. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện trú tại thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Anh chị em ruột có bảy người, bị cáo là con thứ sáu; Vợ: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú’’ từ ngày 03/4/2021 tại xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Ngọc Th, sinh ngày 20/6/1972; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại; thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đặng Đình H, sinh ngày 28/10/2003; trú tại: thôn 6, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người đại diện hợp pháp cho anh Đặng Đình Hiển: Bà Đặng Thị L; nghề nghiệp: Làm ruộng; trú tại: thôn 6, thị trấn Cẩm Xuyên, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh.

- Người chứng kiến:

+ Anh Lê Ngọc H, sinh ngày 02/01/2001; trú tại: thôn Vĩnh Phú, xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, vắng mặt

+ Anh Hoàng Văn Th, sinh ngày 03/02/1987; trú tại: thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh, vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Thực hiện kế hoạch tuần tra kiểm soát của Trưởng Công an huyện Cẩm Xuyên về đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên trong dịp Tết nguyên đán năm 2021. Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/01/2021, quá trình tuần tra, kiểm soát trên tuyến đường liên thôn thuộc địa phận thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện 01 thanh nên đang đứng gần một chiếc xe mô tô, bên cạnh có 01 bì tải xác rắn màu trắng nên tiến hành kiểm tra thì nam thanh niên bỏ chạy, để xe mô tô và bì tải xác rắn màu trắng lại tại hiện trường. Tiến hành kiểm tra bì tải xác rắn phát hiện bên trong chứa 07 (Bảy) khối hộp hình chữ nhật bằng giấy bìa, nền ngoài có in hoa văn sặc sỡ có in chữ nước ngoài, mỗi khối hộp gồm 36 quả hình trụ tròn liên kết với nhau, có kích thước 14,5cmx14,5cmx12cm và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu đen-vàng, biển kiểm soát 38X1-061.32 Công an huyện Cẩm Xuyên đã tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ số pháo và chiếc xe mô tô nói trên để xác M làm rõ. Sau khi lập biên bản thu giữ, Tổ tuần tra xác M xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô nói trên là Đặng Ngọc Th, sinh năm 1972, trú tại thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, nhưng do anh Thạch đi lao động, không có mặt tại địa phương và chiếc xe nói trên do gia đình bà Nguyễn Thị Khai, sinh năm 1954 (là mẹ vợ của anh Thạch) ở cùng thôn quản lý, sử dụng. Tổ tuần tra tiến hành làm việc với gia đình bà Khai, bà Khai thừa nhận chiếc xe của gia đình, nhưng trong quá trình làm việc có một số đối tượng quá khích gây ồn ào, gây cản trở không cho thu giữ chiếc xe nên buộc Tổ tuần tra lập biên bản giao chiếc xe cho gia đình bà Khai quản lý, chờ kết quả xử lý. Đến ngày 02/4/2021, Nguyễn Văn L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú hành vi phạm tội của mình và khai nhận 07 hộp pháo mà Cơ quan điều tra đã thu giữ là của Nguyễn Văn L, mua về để sử dụng vào dịp tết nguyên đán và giao nộp chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38X1-061.32 để xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng tháng 4/2020, Nguyễn Văn L đi từ tỉnh Thừa Thiên Huế để về nhà ở xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Trên đường về, L có đến Cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, thuộc địa phận huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị chơi thì gặp người đàn ông tên M, người ở tỉnh Quảng Trị (Không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể), qua nói chuyện người đàn ông tên M nói có bán pháo, khi nào cần mua thì liên hệ với M, đồng thời trao đổi số điện thoại cho nhau. Đến khoảng đầu 12/2020, do có nhu cầu mua pháo để sử dụng trong dịp Tết nguyên đán năm 2021 nên L chủ động liên hệ với M. L sử dụng điện thoại Samsung Galaxy (không nhớ số thuê bao) gọi điện thoại cho M, đặt mua 07 hộp pháo, loại mỗi hộp có 36 quả, với giá 630.000 đồng/ hộp và hẹn địa điểm giao nhận pháo tại khu vực gần cây xăng dầu, thuộc địa phận xã Kỳ Phong, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Khoảng 15 giờ ngày 03/12/2020, M gọi điện thoại cho L nói đã có pháo và bảo L đến địa điểm đã thỏa thuận để nhận. Đến khoảng 17 cùng ngày, L điều khiển xe mô tô 38X1- 061.32 đi từ nhà gia đình vào khu vực gần cây xăng dầu thuộc địa phận xã Kỳ Phong, huyện Kỳ Anh thấy M đang đứng chờ. Khi gặp nhau, M đưa cho L 01 bì tải xác rắn màu trắng, L mở ra kiểm tra thấy bên trong có 07 hộp pháo nên lấy số tiền 4.410.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm mười nghìn đồng) ra trả cho M rồi chở pháo đưa về cất giấu phía sau nhà ở của gia đình mình. Trong quá trình cất dấu pháo, L nghe được thông tin tuyên truyền của địa phương về xử lý các hành vi liên quan đến pháo nổ nên đã lo sợ hành vi của mình bị phát hiện, xử lý. Đến khoảng 21 giờ ngày 15/01/2021, Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô 38X1- 061.32 chở bì tải xác rắn bên trong chứa 07 hộp pháo đưa đến cầu Quán thuộc địa phận thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh cất giấu. Trên đường vận chuyển bị Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện nên L để xe mô tô và pháo lại, còn L bỏ chạy ra hướng cánh đồng thuộc địa phận thôn 5, xã Cẩm Quang trốn. Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 16/01/2021, L về nhà nằm ngủ, sau đó nghe người nhà kể lại về việc có Công an đến nhà làm việc nên L đã bỏ trốn vào các tỉnh Miền Nam. Đến ngày 02/4/2021, L nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, không thể trốn tránh được và đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã niêm phong và trưng cầu giám định 07 (Bảy) khối hộp hình chữ nhật bằng giấy bìa, nền ngoài có in hoa văn sặc sỡ có in chữ nước ngoài, mỗi khối hộp gồm 36 quả hình trụ tròn liên kết với nhau, có kích thước 14,5cmx14,5cmx12cm. Tại bản kết luận giám định số 113/GĐP-PC09 ngày 08/02/2021, của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 07 (Bảy) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ liên kết với nhau, có kích thước 14,5cmx14,5cmx12cm, gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 9,4Kg (Chín phẩy bốn ki lô gam).

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38X1- 061.32 mà Nguyễn Văn L đã sử dụng đi mua pháo và chở pháo đi cất giấu được xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Đặng Ngọc Th, sinh năm 1972, trú tại thôn 6, xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh theo Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006085 do Công an huyện Cẩm Xuyên cấp ngày 04/9/2012.

* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đã thu giữ, xử lý vật chứng gồm:

- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu sơn đen- vàng, số máy: 1215577, số khung: CY121563, biển kiểm soát 38X1- 061.32, xe đã qua sử dụng; 01 (Một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 006085 của xe mô tô biển kiểm soát 38X1 – 061.32 do Công an huyện Cẩm Xuyên cấp ngày 04/9/2012, thu của Nguyễn Văn L, đã trả lại cho anh Đặng Ngọc Th.

- 01 (Một) bì tải xác rắn màu trắng, bên trên có in dòng chữ “ĐẠM PHÚ MỸ”; 01 hộp giấy bìa cát tông, bìa ngoài màu vàng đậm, kích thước (46,5x32,5x31,5) cm, tại mép thùng được gián băng keo và niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia. Bên trong chứa 07 (Bảy) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, mỗi khối hộp gồm 36 quả hình trụ tròn liên kết với nhau, có kích thước 14,5cmx14,5cmx12cm, sau khi đã trừ mẫu giám định không hoàn lại 0,08Kg, còn lại khối lượng là 9,32Kg (Chín phẩy ba hai ki lô gam) là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; thu tại hiện trường.

Đối với chiếc điện thoại Samsung Galaxy J7, L sử dụng làm phương tiện phạm tội, L khai đã làm rơi nên không thu giữ được để xử lý.

Các vật chứng chưa xử lý nói trên, chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Với hành vi nêu trên tại bản cáo trạng số 46/CT-VKS-CX ngày 11/6/2021 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên sau khi phân tích đánh giá các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1, Khoản 4, Điều 191; các Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 6-9 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ hàng cấm”, thời gian thử thách 12-18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt tiền từ 10-15 triệu đồng.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của pháp luật để xử lý vật chứng, tiền án phí HSST cũng như quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn L nói lời sau cùng: bị cáo biết và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện ăn năn hối cải làm ăn giúp đỡ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:

. Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Xét về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn L: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với Cáo trạng truy tố, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/01/2021, tại đường liên thôn, thuộc địa phận thôn 6, xã Cẩm quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, Nguyễn Văn L sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 38X1 – 061.32 chở 07 (Bảy) hộp, mỗi hộp có 36 quả, với tổng khối lượng 9,4Kg (Chín phẩy bốn ki lô gam) là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ đi cất giấu để nhằm mục đích sử dụng thì bị Tổ tuần tra Công an huyện Cẩm Xuyên phát hiện nên L để tang vật tại hiện trường và bỏ trốn. Đến ngày 02/4/2021, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Nguyễn Văn L đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trong vụ án này chỉ có một mình Nguyễn Văn L thực hiện.

. Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai báo; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đầu thú, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, từ trước đến nay bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy bị cáo Nguyễn Văn L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về tính chất hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi phạm tội của Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật hình sự nhận thức rõ hành vi “Tàng trữ hàng cấm” là bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm, nhưng vẫn cố ý thực hiện, vậy cần xử phạt nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo khi quyết định hình phạt. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại địa phương, tạo điều kiện cho các bị cáo ăn năn hối cải, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội và tiếp tục làm ăn giúp đỡ gia đình.

Đối với người đàn ông bị cáo khai tên M (Người ở tỉnh Quảng Trị) là người bán pháo, nhưng do bị cáo khai không đầy đủ thông tin nên không có căn cứ xác M, điều tra làm rõ.

Đối với anh Đặng Ngọc Th, chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 38X1-061.32 mà Nguyễn Văn L sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác định anh Thạch không biết mục đích sử dụng xe mô của mình nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với bà Nguyễn Thị Khai là chủ gia đình nơi Nguyễn Văn L cất dấu tang vật phạm tội. Quá trình điều tra xác định bà Khai không biết, không đồng ý cho L cất dấu tang vật, nên không có căn cứ để xử lý.

. Về vật chứng vụ án: 01 (Một) bì tải xác rắn màu trắng, bên trên có in dòng chữ “ĐẠM PHÚ MỸ”; 01 hộp giấy bìa cát tông, bìa ngoài màu vàng đậm; Bên trong chứa 07 (Bảy) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, mỗi khối hộp gồm 36 quả hình trụ tròn liên kết với nhau, có kích thước 14,5cmx14,5cmx12cm, sau khi đã trừ mẫu giám định không hoàn lại 0,08Kg, còn lại khối lượng là 9,32Kg (Chín phẩy ba hai ki lô gam) là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; thu tại hiện trường. Nay cần tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 4 điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 07 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho chính quyền địa phương UBND xã Cẩm Quang, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Phạt bổ sung 10.000.000đồng (Mươi triệu đồng).

Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì tải xác rắn màu trắng, bên trên có in dòng chữ “ĐẠM PHÚ MỸ”; 01 hộp giấy bìa cát tông, bìa ngoài màu vàng đậm, kích thước (46,5x32,5x31,5) cm, tại mép thùng được gián băng keo và niêm phong có chữ ký của các thành phần tham gia. Bên trong chứa 07 (Bảy) khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài dán giấy có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, mỗi khối hộp gồm 36 quả hình trụ tròn liên kết với nhau, có kích thước 14,5cmx14,5cmx12cm, sau khi đã trừ mẫu giám định không hoàn lại 0,08Kg, còn lại khối lượng là 9,32Kg (Chín phẩy ba hai ki lô gam) là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ; thu tại hiện trường.

Tình trạng vật chứng như biên bản bàn giao ngày 11/6/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 điều 3, khoản 1 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ