- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THẾ D - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Thế D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-ST Ngày: 31-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Xuân Ngọc
2. Bà Lê Thị Lâm
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Tư – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 03 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 03 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Thế D - Sinh ngày: 05/10/1982 ở phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tiểu khu S, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Thế C - Sinh năm: 1944 và con bà: Nguyễn Thị L (Đã chết); Có vợ: Lê Thị H - Sinh năm: 1989 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2015;
Tiền sự: Không
Tiền án: Tại Bản án số 44/2005/HSST ngày 27/12/2005 của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt Nguyễn Thế D 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến nay bị cáo chưa thi hành án tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Nhân thân:
- Năm 2007 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời hạn là 06 tháng theo quyết định số 03/QĐ- UBND ngày 20/03/2007 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Tĩnh Gia (nay là UBND phường H);
- Năm 2009 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn thời hạn là 06 tháng theo quyết định số 60/QĐ-UBND ngày 20/10/2009 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn Tĩnh Gia (nay là UBND phường H);
- Năm 2007 bị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở chữa bệnh theo pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thời hạn là 12 tháng theo quyết định số 663/QĐ-UBND ngày 17/10/2007 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn);
- Năm 2010 bị áp dụng biện pháp đưa người vào cơ sở chữa bệnh theo pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thời hạn là 24 tháng theo quyết định số 1609/QĐ-UBND ngày 11 tháng 05 năm 2010 của Chủ tịch UBND huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn);
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 13/11/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1. Chị Bùi Thị H - Sinh năm 1993
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
2. Chị Nguyễn Thị A - Sinh năm 2003
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại (chị A):
Bà Mai Thùy Linh – Trợ giúp viên pháp lý
Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 7, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Thế Đ - Sinh năm 1979
Địa chỉ: Tiểu khu S, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
2. Chị Nguyễn Thị E - Sinh năm 1985
3. Anh Lê Mạnh I - Sinh năm 1980
Đều có địa chỉ: Tiểu khu H, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
* Người làm chứng: Chị Vũ Phương T - Sinh năm 2003
Địa chỉ: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thế D là lao động tự do tại địa phương, không có công việc và thu nhập ổn định, lại cần tiền để tiêu xài, nên D đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác mang đi bán hoặc cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân. Do đó trong ngày 27/10/2020, D đã thực hiện liên tiếp 02 lần cướp giật, chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại di động của người khác. Cụ thể như sau:
1. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 27/10/2020 D mặc áo ấm gió màu xanh rêu, quần ngủ dài màu đen, đi dép da màu nâu đen, đội mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen, xám, biển kiểm soát: 36C1-282.16 (xe của anh trai là Nguyễn Thế Đ) đi tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt về bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi đang đi trên đoạn đường thuộc tổ dân phố N, phường B, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa theo hướng từ bờ đê B đi Ủy ban nhân dân phường B thì D nhìn thấy chị Bùi Thị H đang điều khiển xe mô tô, trên tay trái chị H cầm chiếc điện thoại di động, D nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động trên nên đã điều khiển xe mô tô đi lại gần rồi dùng tay trái giật chiếc điện thoại của chị H rồi tẩu thoát.
2. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, D điều khiển xe về thôn N, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, tại đây D nhìn thấy chị Vũ Phương T đang điều khiển xe đạp điện chở chị Nguyễn Thị A ngồi phía sau, trên tay chị A có cầm 01 chiếc điện thoại di động. D điều khiển xe máy vượt lên từ phía sau rồi dùng tay trái của mình giật chiếc điện thoại của chị A rồi tẩu thoát. Sau đó D điều khiển xe về nhà mình thuộc Tiểu khu S, phường H, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tài sản D cướp giật được của chị H là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, của chị A là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng. Đến ngày 28/10/2020 D mang chiếc điện thoại di động Oppo A5S đến cửa hàng điện thoại Hùng Cường thuộc Tiểu khu H, phường H, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa cầm cố được số tiền 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Ngày 31/10/2020, D tiếp tục mang chiếc điện thoại di động Iphone 6 plus màu trắng đến cửa hàng điện thoại di động Hùng Cường cầm cố được số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền có được từ việc cầm cố các tài sản trên D đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết. Ngày 13/11/2020 biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện nên D đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đầu thú.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thế D ở Tiểu khu S, phường H, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã thu giữ: 01 (Một) chiếc áo ấm gió màu xanh rêu; 01 (Một) chiếc quần ngủ dài màu đen; 01 (Một) đôi dép da màu nâu đen; 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng; 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xám, đen, BKS: 36C1-282.16, số khung: 6300FZ109077, số máy: JF63E1109095, đã qua sử dụng là đồ dùng cá nhân và phương tiện D sử dụng khi đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 125/KLĐGTS ngày 16/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản UBND thị xã Nghi Sơn, kết luận: Giá trị còn lại của 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A5S màu đen, bản 32Gb, mua mới từ tháng 4/2020, đã qua sử dụng, điện thoại vẫn dùng bình thường là 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6plus, màu trắng, bản 64 Gb, mua cũ từ tháng 01/2020, đã qua sử dụng, điện thoại vẫn dùng bình thường là 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Tổng cộng, Nguyễn Thế D đã chiếm đoạt 02 điện thoại di động trị giá qua định giá là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Đối với anh Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1979 ở Tiểu khu S, phường H, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xám, đen, biển kiểm soát: 36C1-282.16 mà D mượn làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Tuy nhiên, D nói mượn để đi công việc, anh Đ không biết việc D mượn chiếc xe để làm phương tiện thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên anh Đ không có hành vi vi phạm pháp luật.
Đối với chị Nguyễn Thị E, sinh năm 1985 và anh Lê Mạnh I, sinh năm 1980 đều ở Tiểu khu H, phường H, thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa là chủ cửa hàng điện thoại Hùng Cường đã có hành vi nhận cầm cố 02 chiếc điện thoại di động mà D chiếm đoạt được tối ngày 27/10/2020, tuy nhiên khi nhận cầm cố không biết đó là tài tài sản do D phạm tội mà có nên hành vi của chị E và anh G không vi phạm pháp luật.
Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Điều tra đã thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật sau:
- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xám, đen, BKS: 36C1-282.16, số khung: 6300FZ109077, số máy: JF63E1109095.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 865222048475259, số Imei2: 865222048475242.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng, số Imei: 354384067318204 bản 64Gb.
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N2 màu đen, có viền màu hồng bằng kim loại.
- 01 (Một) chiếc áo ấm gió màu xanh rêu.
- 01 (Một) chiếc quần ngủ dài màu đen.
- 01 (Một) đôi dép da màu nâu đen.
- 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại:
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xám, đen, biển kiểm soát: 36C1-282.16, số khung: 6300FZ109077, số máy: JF63E1109095, đã qua sử dụng cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Thế Đ.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 865222048475259, số Imei2: 865222048475242 cho bị hại chị Bùi Thị H.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng, đã qua sử dụng, số Imei: 354384067318204 bản 64Gb cho bị hại chị Nguyễn Thị A.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N2 màu đen, có viền màu hồng bằng kim loại, đã qua sử dụng, Cơ quan CSĐT đã xử lý bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bị can Nguyễn Thế D.
Đối với 01 (Một) chiếc áo ấm gió màu xanh rêu; 01 (Một) chiếc quần ngủ dài màu đen; 01 (Một) đôi dép da màu nâu đen; 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng là đồ dùng cá nhân của D, D sử dụng khi đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã nhập kho vật chứng thuộc Công an thị xã Nghi Sơn. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về dân sự: Trong quá trình điều tra vụ án, gia đình bị cáo đã trả lại toàn bộ số tiền mà D đã cầm cố điện thoại cho anh G (là chủ cửa hàng Hùng Cường). Các bị hại Bùi Thị H và Nguyễn Thị A cũng đã nhận lại tài sản bị cướp giật và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
Bản Cáo trạng số 44/CT-VKSNS-HS ngày 03/03/2021 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Thế D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:
- Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo là từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (13/11/2020).
- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại:
+ Anh Nguyễn Thế Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xám, đen, biển kiểm soát: 36C1-282.16, số khung: 6300FZ109077, số máy: JF63E1109095 đã qua sử dụng.
+ Chị Bùi Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 865222048475259, số Imei2: 865222048475242.
+ Chị Nguyễn Thị A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng, đã qua sử dụng, số Imei: 354384067318204 bản 64Gb.
+ Nguyễn Thế D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N2 màu đen, có viền màu hồng bằng kim loại, đã qua sử dụng.
+ Gia đình bị cáo D đã trả lại cho anh G và chị E số tiền 2.500.000đ là tiền anh G bỏ ra mua 02 điện thoại, nhưng D đã tiêu sài cá nhân hết. Anh G và chị E đã nhận đủ số tiền nói trên và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Tất cả những người nói trên đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.
- Đề nghị HĐXX tuyên tiêu hủy 01 (Một) chiếc áo ấm gió màu xanh rêu; 01 (Một) chiếc quần ngủ dài màu đen; 01 (Một) đôi dép da màu nâu đen; 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng là đồ dùng cá nhân của D, D sử dụng khi đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản do tại phiên tòa bị cáo D không yêu càu trả lại số tài sản nói trên và đề nghị HĐXX tuyên tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
* Quan điểm của Bà Mai Thùy Linh, trợ giúp viên pháp lý, bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại Lê Thị Dung đề nghị HĐXX xem xét cụ thể:
Chị A đã nhận lại tài sản của mình, chị A có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa và không có yêu cầu gì thêm đồng thời đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, g khoản 1 Điều 52 loeen cho bị cáo một mức án đủ sức răn re. Tuy nhiên cũng cần xem xét đó là: Sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình nên bị cáo đã đến cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã thành khẩn khai báo, chủ động bàn bạc với gia đình trả lại số tiền cho anh G và chị E; Tất cả những người bị hại và người có quyền lợi liên quan đều có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo sớm cải tạo tốt trở về với cộng đồng làm người dân lương thiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các tài liệu chứng chứng đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay có đủ căn cứ để khảng định VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ.
Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Thế D phạm tội “Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất vụ án: Nguyễn Thế D đã có hành vi dùng xe máy để cướp giật điện thoại của chị A và chị H, đó là thủ đoạn nguy hiểm (theo tiểu mục 5.3 mục 5 phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001). Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó việc đưa bị cáo ra xét xử buộc bị cáo phải chịu một hình phạt là cần thiết. Vì vậy cần phải có đường lối xử lý nghiêm tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:
Nguyễn Thế D là thanh niên có tuổi đời còn trẻ, đáng lẽ bị cáo phải tự mình lao động để tạo nguồn thu nhập cho cuộc sống của mình và gia đình, nhưng do không chịu tu dưỡng rèn luyện nên bị cáo đã sớm bước chân vào con đường phạm tội. Bị cáo thực hiện hành vi "Cướp giật tài sản" và đối tượng mà bị cáo nhằm vào là những người phụ nữ chân yếu, tay mềm. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tính chất nghiêm trọng của loại tội “Cướp giật tài sản”, hơn nữa trong vụ án này, Nguyễn Thế D phạm tội với tình tiết định khung là "dùng thủ đoạn nguy hiểm" được quy định tại điểm d khoản 1 của Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo phạm tội với 02 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại g, h khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015 đó là phạm tội 2 lần trở lên và tái phạm. Do đó nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian mới đủ điều kiện để cải tạo và giáo dục bị cáo cũng như răn đe và phòng ngừa chung.
Song khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ đó là: Sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình là vi phạm phap luật không thể trốn tránh được nên bị cáo đã đến cơ quan CSĐT để đầu thú; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; Bị cáo đã chủ động bàn bạc với gia đình trả lại toàn bộ số tiền đã bán điện thoại cho anh Lê Mạnh I; Tất cả bị hại và những người có quyền lợi liên quan đều có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo . Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng như xem xét đến hoàn cảnh thực tế của bị cáo là vợ chồng đã ly hôn nhau, bản thân bị cáo đang trực tiếp nuôi 01 con còn nhỏ để bị cáo cải tạo tốt sớm trở về với cộng đồng cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, mở đường cho bị cáo hướng tới tương lai để tu dưỡng, rèn luyện mình trở thành người công dân tốt.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho:
+ Anh Nguyễn Thế Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu sơn xám, đen, biển kiểm soát: 36C1-282.16, số khung: 6300FZ109077, số máy: JF63E1109095 đã qua sử dụng.
+ Chị Bùi Thị H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5S màu đen, đã qua sử dụng, số Imei1: 865222048475259, số Imei2: 865222048475242.
+ Chị Nguyễn Thị A 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng, đã qua sử dụng, số Imei: 354384067318204 bản 64Gb.
+ Nguyễn Thế D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia N2 màu đen, có viền màu hồng bằng kim loại, đã qua sử dụng.
Tất cả những người nói trên đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
- Tiêu hủy 01 (Một) chiếc áo ấm gió màu xanh rêu; 01 (Một) chiếc quần ngủ dài màu đen; 01 (Một) đôi dép da màu nâu đen; 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng là đồ dùng cá nhân của D, D sử dụng khi đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản vì tại phiên tòa bị cáo D xác định các tài sản nói trên đã cũ, hư hỏng không còn giá trị sử dụng nên không có nhu cầu nhận lại và đề nghị HĐXX tuyên tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, 03 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51; Điểm h, g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thế D.
- Tuyên bố: Nguyễn Thế D phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Xử phạt: Nguyễn Thế D 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (13/11/2020). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
- Về trách nhiệm dân và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tiêu hủy 01 (Một) chiếc áo ấm gió màu xanh rêu; 01 (Một) chiếc quần ngủ dài màu đen; 01 (Một) đôi dép da màu nâu đen; 01 (Một) chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, đen, trắng là đồ dùng cá nhân của D, D sử dụng khi đi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
(Theo phiếu nhập kho số NK2021/57 ngày 30 tháng 03 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).
- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thế D phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi liên quan. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại và những người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - Công an thị xã Nghi Sơn; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Hạnh |