- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đăng văn C phạm tội vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-ST Ngày 11 - 11 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên;
Ông Nguyễn Hữu Quỵ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Vương Vũ - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2021, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 47/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2021/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2021 đối với:
Bị cáo Đặng Văn C, sinh ngày 10/10/1963, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng T (đã chết) và bà Nguyễn T (đã chết); gia đình có 07 anh chị em, bị cáo con thứ 4; có vợ Hồ Thị D, sinh năm 1964; có 05 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2021 đến ngày 28/5/2021 thì được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Anh Ngô Quốc T; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Qua công việc, Đặng Văn C quen biết người đàn ông tên thường gọi là Tốp (không rõ tên thật và địa chỉ). Ngày 01/4/2021, Tốp giao xe ô tô mang biển kiểm soát 17L-0105 để thuê C chở hàng từ Quảng Trị đi Quảng Bình, sau đó C điều khiển xe về nhà ở xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế chờ Tốp liên lạc lại.
Khoảng 17 giờ ngày 06/4/2021, khi đang ở nhà, C nhận được điện thoại của Tốp thỏa thuận thuê C lái xe ô tô tải BKS 17L - 0105 chở hàng thuốc lá điếu nhập lậu đi từ Quảng Trị đến Quảng Bình với tiền công 1.000.000 đồng, địa điểm bốc hàng ở xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, C đồng ý. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe ô tô tải BKS 17L - 0105 đi theo Quốc lộ 1A hướng ra Bắc, cùng đi trên xe có Ngô Quốc T sinh năm 1996, là con rể của C. Theo hướng dẫn của Tốp, C điều khiển xe đi đến địa điểm bốc hàng đã hẹn.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, Tốp lái xe ô tô 7 chỗ (không rõ biển kiểm soát) đến gần vẫy tay ra hiệu cho C điều khiển xe đi theo, theo sau xe Tốp còn có 01 xe ô tô tải nhỏ (không rõ biển kiểm soát). Đến địa điểm bốc hàng, người đàn ông (không rõ lai lịch) là tài xế của xe tải nhỏ xuống xe yêu cầu C bật cabin xe ô tô BKS 17L -0105 về phía trước rồi lấy dụng cụ mở nắp trước thùng xe xuống để hở ra một khoang hầm gia cố. C nhìn thấy thùng xe ô tô BKS 17L - 0105 được gia cố thành 2 khoang chứa hàng, khoang lớn bên trong chất đầy các vỏ chai nhựa được đóng thành từng bao ni long xếp chồng lên nhau, còn khoang hầm còn trống. C cùng con rể phụ giúp Tốp chuyền 27 thùng cáttông được bọc trong bao gai màu xanh từ xe tải nhỏ và xe ô tô 7 chỗ đưa cho người đàn ông kia bốc xếp lên khoang hầm gia cố của xe ô tô BKS 17L-0105. Dù không quan sát được bên trong thùng cat tông nhưng C biết đây là thuốc lá điếu nhập lậu. Bốc hàng xong, C và Tuấn lên xe, C điều khiển xe theo đường Quốc phòng ven biển ra đến thị trấn Cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh rồi rẽ lên tỉnh lộ DT574 hướng ra Quốc lộ 1A đi Quảng Bình. Khi C điều khiển xe đi đến Km 0+600 đường DT 574 thuộc địa phận xã Hiền Thành, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị thì bị Phòng Cảnh sát kinh tế phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Quảng Trị khám phương tiện phát hiện bắt quả tang.
Quá trình khám xét, cơ quan chức năng phát hiện trong khoang gia cố phía trước thùng xe, tiếp giáp với ca bin xe ô tô có 13.000 bao thuốc lá điếu trong đó có 12.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ được đóng gói trong 25 thùng các tông (mỗi thùng chứa 500 bao thuốc lá, bên ngoài thùng được bộc bao gai màu xanh) và 500 bao thuốc lá nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS được đóng gói trong 2 thùng các tông (mỗi thùng có chứa 250 bao thuốc lá, bên ngoài thùng được bọc bao gai màu xanh) do nước ngoài sản xuất. Đặng Văn C không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của số thuốc lá vận chuyển trên xe.
Tại bản Kết luận giám định số 437/C09C-Đ2 ngày 13/4/2021 của Phân viện khoa học hình sự Đà Nẵng kết luận:
- 12.500 bao thuốc lá (nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
- 500 bao thuốc lá (nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS; loại 20 điếu/bao, 10 bao/hộp; các bao còn nguyên vẹn) gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS; không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam.
- Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng không đủ cơ sở để kết luận các mẫu thuốc lá điếu mang nhãn hiệu trên có nguồn gốc, xuất xứ chính xác từ nước nào.
Bản Cáo trạng số 44/CT-VKS-P1 ngày 28/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Đặng Văn C về tội:“Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội:“Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Văn C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 228 Bộ luật dân sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 11.250 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ; 450 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS còn lại sau giám định; 27 bao gai màu xanh; 3.000 vỏ chai nhựa (không có nhãn mác).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng đã qua sử dụng và 01 điện thoại Nokia đã qua sử dụng.
- Tiếp tục tạm giữ 01 xe ô tô mang BKS 17L - 0105, nhãn hiệu HYUNDAI loại xe ô tô tải thùng kín, màu sơn: trắng, có số khung: KMFGA17LP4C201501, số máy: D4AL4202393 (Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 17L-0105; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 17L - 0105 số KD 547638) trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 21/6/2021 nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân là lao động chính, vợ không có việc làm nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
. Về tội danh: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai có trong hồ sơ vụ án; các tài liệu, chứng cứ được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thu thập, bị cáo cung cấp là hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 17 giờ ngày 06/4/2021, C nhận được điện thoại của Tốp (không rõ lai lịch) thuê C lái xe ô tô tải BKS 17L - 0105 chở hàng thuốc lá điếu nhập lậu từ Quảng Trị ra Quảng Bình với tiền công 1.000.000 đồng, địa điểm bốc hàng ở xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Đến 19 giờ cùng ngày, C điều khiển xe ô tô tải BKS 17L - 0105 đi đến địa điểm bốc hàng đã hẹn gặp Tốp lái xe ô tô 7 chỗ (không rõ biển kiểm soát) và 01 người đàn ông điều khiển 01 xe ô tô tải nhỏ (không rõ biển kiểm soát). Tại địa điểm bốc hàng, C cùng con rể phụ giúp Tốp chuyền 27 thùng cáttông được bọc trong bao gai màu xanh từ xe tải nhỏ và xe ô tô 7 chỗ đưa cho người đàn ông điều khiển xe tải nhỏ xếp lên khoang hầm gia cố của xe ô tô BKS 17L-0105. Dù không quan sát được bên trong thùng cattông nhưng C biết đây là thuốc lá điếu nhập lậu. Bốc hàng xong, C điều khiển xe theo đường Quốc phòng ven biển ra đến thị trấn Cửa Tùng, huyện Vĩnh Linh. Khi điều khiển xe đi đến Km 0+600 đường DT 574 thuộc địa phận xã Hiền Thành, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị thì bị Phòng Cảnh sát kinh tế phối hợp với Phòng Cảnh sát giao thông - Công an tỉnh Quảng Trị khám phương tiện phát hiện bắt quả tang C đang vận chuyển 13.000 bao thuốc lá điếu nhưng không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ. Tại bản kết luận giám định số 437/C09C-Đ2 ngày 13/4/2021 của Phân viện khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận 13.000 bao thuốc lá thu giữ được không phải là thuốc lá điếu được sản xuất tại Việt Nam. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố và TAND tỉnh Quảng Trị xét xử bị cáo Đặng Văn C về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất thuộc loại hàng hóa cấm kinh doanh, mua bán, vận chuyển. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lời muốn có tiền nhưng không phải do lao động hợp pháp mà có nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội với tang số hàng phạm pháp là 13.000 thuốc lá điếu, gấp 3 lần mức khởi điểm của khung hình phạt bị truy tố, xét xử. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước đối với những loại hàng hoá mà pháp luật cấm kinh doanh, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo Đặng Văn C mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi được thể hiện qua việc ngay sau khi bị bắt giữ bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, quá trình điều tra, truy tố và xét xử luôn hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng, ăn năn về hành vi do bản thân gây ra làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội cũng như cuộc sống gia đình; bị cáo là lao động chính, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng và do bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS để xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt nhưng phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới phù hợp với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo.
Cần tiếp tục áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đặng Văn C có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định, đông con, chưa thu lợi gì trong việc vận chuyển hàng cấm nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Đối với đối tượng tên Tốp và người đàn ông lái xe tải nhỏ tham gia bốc thuốc lá điếu lên xe BKS 17L -0105, Cơ quan cảnh sát điều tra đã thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để điều tra nhưng vẫn không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ xem xét.
Đối với Ngô Quốc T, sinh năm 1996; trú tại Thôn Tân Mỹ, Phong Mỹ, Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đi cùng xe ô tô của Đặng Văn C vào ngày 06/4/2021. Tuấn là con rễ của bị cáo C, được C gọi đi cùng để chạy xe về nhưng Tuấn không biết hàng vận chuyển trên xe là thuốc lá điếu nhập lậu, do đó không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Tuấn.
. Về xử lý vật chứng:
- Quá trình điều tra thu giữ 13.000 bao thuốc lá điếu đựng trong 27 bao gai màu xanh và 27 thùng cattông, sau giám định còn lại gồm: 11.250 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ và 450 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS; 27 bao gai màu xanh đựng các thùng cattông. Đây là tang vật của vụ án và là hàng hóa cấm mua bán, vận chuyển nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe ô tô BKS 17L1-0105 và 3.000 vỏ chai nhựa (không có nhãn mác): Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên ông Trần Văn Thành, sinh năm 1966 ở thị trấn Đông Hưng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Qua xác minh xác định ông Thành đã bán cho người khác từ cuối năm 2020, việc mua bán chỉ lập giấy tờ giao nhận xe và giao nhận tiền mặt. Quá trình điều tra bị cáo cho rằng không phải xe của bị cáo mà là xe của đối tượng tên Tốp; không biết 3.000 vỏ chai nhựa là của ai có trên xe ô tô. Ngày 21/6/2021, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm chủ sở hữu xe ô tô và tài sản có trên xe ô tô trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Quảng Trị nhưng đến nay vẫn không xác định được chủ sở hữu. Xét thấy, xe ô tô bị cáo sử dụng vào vận chuyển hàng cấm là vật chứng vụ án; 3.000 vỏ chai nhựa có trên thùng xe chưa xác định được chủ sở hữu. Theo khoản 2 Điều 228 BLDS 2015 quy định, sau thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo nếu không xác định được chủ sở hữu thì quyền sở hữu thuộc về người phát hiện tài sản. Tuy nhiên, do thời hạn thông báo chưa đủ 01 năm và tang vật là vật chứng của vụ án, do đó, cần tiếp tục tạm giữ sau 01 năm kể từ ngày 21/6/2021 nếu vẫn không xác định được chủ sở hữu đối với xe ô tô và 3.000 vỏ chai nhựa thì sẽ tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 17L-0105; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 17L - 0105 số KD 547638 cần giữ lại để đảm bảo thi hành án khi xử lý xe ô tô BKS 17L - 0105.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng và 01 điện thoại Nokia đã qua sử dụng, bị cáo C khai đã sử dụng để liên lạc trong quá trình giao dịch vận chuyển hàng cấm. Xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
. Đối với số tiền 1.200.000 đồng bị cáo Đặng Văn C nộp theo biên lai thu tiền số AA/2010/000937 ngày 20/8/2021 của Cục THADS tỉnh Quảng Trị. Xét thấy số tiền này không xác định được bị cáo nộp theo vụ án nào, không liên quan đến vụ án đang giải quyết. Do đó, không có căn cứ để xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn C phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/4/2021 đến ngày 28/5/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 228 BLDS 2015.
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 11.250 bao thuốc lá nhãn hiệu RAISON ICE CAFÉ và 450 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu GEORGE KARELIAS AND SONS còn lại sau giám định được niêm phong trong 25 thùng giấy cát tông, bên ngoài có chữ ký của Phạm Phú Quang, Nguyễn Đình Hải, Nguyễn Hồng Sơn và hình dấu của phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng. Kèm theo Kết luận giám định số 437/C09C-Đ2 ngày 13/4/2021 của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng.
+ 27 bao gai màu xanh.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng và 01 điện thoại Nokia đã qua sử dụng được niêm phong trong một phong bì màu trắng, bên ngoài có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Hà và dấu hình của phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Trị. Kèm theo Kết luận giám định số 529/KLGĐ-PC09 ngày 14/5/2021 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị.
- Tiếp tục tạm giữ: 01 xe ô tô mang BKS 17L- 0105, nhãn hiệu HYUNDAI loại xe ô tô tải thùng kín, màu sơn: trắng, có số khung: KMFGA17LP4C201501, số máy: D4AL4202393 (Kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 17L-0105; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô BKS 17L - 0105 số KD 547638); 3.000 vỏ chai nhựa (không có nhãn mác) trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 21/6/2021 nếu không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
(Số vật chứng trên hiện có tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/10/2021).
3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Đặng Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; - Cục THADS tỉnh Quảng Trị; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Việt Trung |