- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh Thịnh, tội Cố ý gây thương tích tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Thanh T; Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Thanh T; Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Thanh T
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HSST Ngày 07-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Đạt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Hường
Ông Lê Quang Chính.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 42/2021/HSST ngày 30 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2021/HSST-QĐ ngày 18 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
PHẠM THANH T (Chua), sinh năm 1998 tại Ninh Thuận.
Trú tại: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 6/12; Con ông Phạm C, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Phan Văn Thanh H (Sáo), sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn T1, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Phạm C, sinh năm 1974. Có mặt.
2. Ông Phạm Thanh inh, sinh năm 1985. Vắng mặt.
Cùng nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Bảo P, sinh năm 1991 sinh năm 1989. Vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Hòa B, sinh năm 1998. Vắng mặt.
Cùng Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16-01-2021, Phạm Thanh T, sinh năm: 1998; Nguyễn Hoài B, sinh năm: 1998; Lê Văn Minh, sinh năm: 1989; Dương Thành Đ, sinh năm: 1992 cùng trú tại: Thôn T, xã P, huyện N đang chơi bida tại quán Hải Hà do anh Nguyễn Bảo P, sinh năm: 1991 làm chủ sở hữu ở thôn T, xã P thì Phan Văn Thanh H, sinh năm: 1997, trú tại: Thôn Từ Tâm 2, xã P đến rủ Nguyễn Hoài B đánh bida độ, nhưng T lại rủ B đi nhậu, nên giữa T và H xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau, nên M và Đ về trước, B chở T về sau, H ở lại quán bida. Trên đường về T và B vào nhà Nguyễn T (Bớp), sinh năm: 1995 ở thôn T, xã P để nhậu tiếp. Lúc này, T vào nhà tìm Thắng còn B đứng ngoài cổng chờ. Sau khi T đi vào nhà tìm Thắng nhưng không có ai ở nhà. T bực tức vì H đòi đánh mình, nên T lấy 01 cây kéo sắt tại bếp nhà Thắng bọc trong người và quay lại chỗ B đứng, nói B chở T quay lại quán bida để tìm H nói chuyện, nên B điều khiển xe mô tô biển số 85R9-6668 quay lại quán bida H. Khi tới quán, B dựng xe đứng chờ còn T đi lại gặp H. Khi thấy B và T đi ngang quán bida, thì H cầm theo 01 cây cơ bida chạy ra ngoài quán. Hai bên đứng đối diện, cách nhau khoảng 0,5m thách thức nhau, thì H dùng cơ đập 02-03 cái vào đầu T làm cây cơ bị gãy làm 03 khúc. H vẫn cầm một đoạn cơ gãy, H và T giằng co, H dùng đoạn cơ bị gãy đánh 01 cái trúng cổ T, T lấy kéo giấu trong người ra đâm nhiều nhát vào vùng hông và phía trước người H, H quay người bỏ chạy và bị T đuổi theo đâm kéo vào sau lưng, rồi H chạy lại chỗ B đứng, B vào can ngăn bị T dùng kéo đâm trúng 1 nhát vào vùng vai trái. T tiếp tục dùng chân đạp H, thấy vậy anh P đến can ngăn, còn B dắt xe mô tô cùng T đi về, trên đường về T đã ném cây kéo dọc đường, còn H được đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận để cấp cứu. Tại Cơ quan điều tra, Phạm Thanh T (Chua) đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 48/TgT ngày 05-4-2021 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Ninh Thuận kết luận:
+ Vết thương ngang vùng ngực phải phía trên núm vú phải khoảng 2cm sẹo liền tốt kích thước (9,2 x0,8) cm (03%).
+ Vết thương ngang vùng sau cổ sẹo liền tốt phẳng kích thước (1,7x0,6)cm (02%).
+ Vết thương dọc vùng nách bên phải sẹo lồi liền kích thước (6x1,2)cm (03%)
+ Vết thương dọc lưng trái sẹo liền tốt phẳng di động kích thước (1,6x0,8)cm (01%).
+ Vết thương ngang vùng hông lưng trái sẹo liền tốt phẳng di động kích thước (1,6x0,7)cm (01%)
+ Vết thương dọc mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái có 02 vết thương sẹo liền tốt phẳng kích thước (0,7x0,5)cm (01%) và 1,6x0,5)cm (01%).
+ Vết mổ dẫn lưu đường nách giữa bên trái tương ứng khoang liên sườn V, VI kích thước (3,2 x0,3)cm (02%).
+ Tràn khí dịch màng phổi trái lượng nhiều có phẫu thuẫt nhưng không để lại di chứng (03%)
+ Tràn khí và dịch màng phổi phải điều trị ổn định 03%.
Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương đã qua quá trình điều trị nhận định là do vật sắc nhọn gây nên.
Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Phan Văn Thanh H do thương tích gây nên hiện tại là 18%.
- Tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:
+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) không có tình tiết tăng nặng.
+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội xuất phát từ một phần lỗi của bị hại.
- Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ và xử lý như sau:
+ 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy hai đầu bờ nham nhở dài 33cm, đường kính trung bình 2,5cm, một đầu bọc nhựa, một đầu để lộ thanh gỗ lõi bên trong, thanh gỗ có hình trụ tròn; 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy một đầu, một đầu gắn cao su bọc nhựa dài 48cm, một đầu có đường kính 03cm, một đầu có đường kính 2,5cm; 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy một đầu dài 73cm, đầu bị gãy có bờ nham nhở lộ phần lõi gỗ bên trong có đường kính 02cm, đầu không bị gãy có đường kính 01cm, thanh gỗ có hình trụ tròn. Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản của anh Phúc, nhưng anh Phúc không yêu cầu nhận lại. Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy.
+ 01 xe mô tô biển số 85R9-6668, số máy 150FMG-00077516, số khung DCG1TXM6H-077516. Quá trình điều tra xác định đây là xe mô tô của ông Phạm C, sinh năm: 1974 , trú tại: thôn T, P, N (là cha của bị cáo T). Ông C không biết T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi đánh anh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho ông C là có căn cứ.
Đối với 01 cây kéo Phạm Thanh T (Chua) dùng đâm Phan Văn Thanh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành truy tìm, nhưng không có kết quả.
- Về dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố anh Phan Văn Thanh H yêu cầu bị cáo Phạm Thanh T (Chua) bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí hợp lý khác số tiền 20.000.000 đồng. Hiện nay T chưa bồi thường khoản tiền nào.
Riêng đối với 03 đoạn cây cơ dụng cụ đánh bida của anh Nguyễn Bảo P bị thiệt hại, anh P không cầu định giá và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét đến.
Đối với Nguyễn Hoài B khi can ngăn T và H đánh nhau bị T dùng kéo đâm 01 nhát gây thương tích, do B bị thương tích nhẹ, nên B không có yêu cầu giám định thương tích và bồi thường gì thêm, nên không xem xét đến.
Đối với thương tích của Phạm Thanh T (Chua) do Phan Văn Thanh H dùng cây cơ đánh bida đánh nhưng bị thương tích nhẹ, nên T không có yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý nên không xét đến.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc xảy ra như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bản Cáo trạng số 33/CT-VKS-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo Phạm Thanh T (Chua) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 (Điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Có các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội xuất phát từ một phần lỗi của bị hại quy định tại các điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Áp dụng điểm đ khoản 2 (Điểm a khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Thanh T (Chua) từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác thu thập tại hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, tranh luận công khai tại phiên tòa, đủ cơ sở kết luận:
Do mâu thuẫn trong quá trình chơi bida tại quán bida Hải Hà ở thôn T, xã P, huyện N; Phạm Thinh T (Chua) bị anh Phan Văn Thanh H thách thức đòi đánh, nên khoảng 21 giờ ngày 16-01-2021, T bực tức đã vào nhà của Nguyễn T lấy kéo bọc sẵn theo người quay lại quán bida tìm H đánh trả thù. Khi tới quán bida thì H và T tiếp tục đánh nhau, T đã dùng kéo đâm nhiều nhát vào người anh H làm cho anh H bị thương tích 18 .
Hành vi của bị cáo:
Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) cầm kéo gây thương tích cho bị hại Phan Văn Thanh H 18%, kéo được xác định là hung khí nguy hiểm.
Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm Hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Phạm Thanh T (Chua) về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ, khoản 2 (điểm a khoản 1), Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật B vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nhất là hiện nay loại tội phạm này đang ngày càng gia tăng, vì vậy cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, người bị hại cũng có lỗi quy định tại các điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; cần áp dụng Điều 54 cho bị cáo hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy hai đầu bờ nham nhở dài 33cm, đường kính trung bình 2,5cm, một đầu bọc nhựa, một đầu để lộ thanh gỗ lõi bên trong, thanh gỗ có hình trụ tròn; 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy một đầu, một đầu gắn cao su bọc nhựa dài 48cm, một đầu có đường kính 03cm, một đầu có đường kính 2,5cm; 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy một đầu dài 73cm, đầu bị gãy có bờ nham nhở lộ phần lõi gỗ bên trong có đường kính 02cm, đầu không bị gãy có đường kính 01cm, thanh gỗ có hình trụ tròn.
- Đối với 01 xe mô tô biển số 85R9-6668, số máy 150FMG-00077516, số khung DCG1TXM6H-077516. Quá trình điều tra xác định đây là xe mô tô của ông Phạm C, sinh năm: 1974 , trú tại: thôn T, P, N (là cha của T). Ông C không biết T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện đi đánh anh H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho ông C là có căn cứ.
- Đối với 01 cây kéo Phạm Thanh T dùng đâm Phan Văn Thanh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành truy tìm, nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố bị hại Phan Văn Thanh H yêu cầu bị cáo Phạm Thanh T (Chua) bồi thường chi phí điều trị và các khoản chi phí hợp lý khác số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Tuy nhiên tại phiên tòa bị hại Phan Văn Thanh H chỉ yêu cầu bồi thường 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), bị cáo T đồng ý biồi thường 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), nhưng chưa bồi thường khoản tiền nào do có khó khăn về kinh tế. Vì vậy, Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phạm Thanh T (Chua) phải bồi thường cho bị hại Phan Văn Thanh H những khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) theo quy định của pháp luật.
- Riêng đối với 03 đoạn cây cơ dụng cụ đánh bida của anh Nguyễn B Phúc bị thiệt hại, anh Phúc không cầu định giá và không yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không xem xét đến.
- Đối với Nguyễn H B khi can ngăn T và H đánh nhau bị T dùng kéo đâm 01 nhát gây thương tích, do B bị thương tích nhẹ nên B không có yêu cầu giám định thương tích và bồi thường gì thêm, nên không xem xét đến.
- Đối với thương tích của Phạm Thanh T do Phan Văn Thanh H dùng cây cơ đánh bida đánh nhưng bị thương tích nhẹ, nên T không có yêu cầu giám định thương tích, không yêu cầu xử lý nên không xét đến.
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Phạm Thanh T (Chua), các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội, quan điểm về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Phạm Thanh T phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 (điểm a khoản 1) Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy hai đầu bờ nham nhở dài 33cm, đường kính trung bình 2,5cm, một đầu bọc nhựa, một đầu để lộ thanh gỗ lõi bên trong, thanh gỗ có hình trụ tròn; 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy một đầu, một đầu gắn cao su bọc nhựa dài 48cm, một đầu có đường kính 03cm, một đầu có đường kính 2,5cm; 01 đoạn thanh gỗ đã bị gãy một đầu dài 73cm, đầu bị gãy có bờ nham nhở lộ phần lõi gỗ bên trong có đường kính 02cm, đầu không bị gãy có đường kính 01cm, thanh gỗ có hình trụ tròn.
Theo biên B giao nhận vật chứng ngày 01-7-2021 giữa Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện N.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Phạm Thanh T (Chua) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bị hại Phan Văn Thanh H số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng);
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Về án phí:
Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Thanh T (Chua) phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và 750.000đ (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 07-9-2021).
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND huyện N; - VKSND huyện N; - CQĐT Công an huyện N; - CQTHAHS Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Sở Tư pháp tỉnh; - TAND tỉnh; - Lưu: Hồ sơ, án văn. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Lê Thị Hường Lê Quang Chính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Đạt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Đạt |