- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-ST Ngày: 29-6-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Độ.
Ông Huỳnh Thanh H.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vui - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Võ Văn H, sinh năm 2002 tại Nghệ An; hộ khẩu thường trú: xóm B, xã P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; tạm trú: khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn K và bà Phạm Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 25 tháng 02 năm 2021 cho đến ngày 06 tháng 3 năm 2021 thì bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng từ ngày 09 tháng 6 năm 2021 cho đến nay, có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Minh Q, sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: thôn A, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ hiện nay: khu phố S, thị trấn L, huyện Ba, tỉnh Bình Dương, vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Võ Văn H và Phạm Minh Q cùng làm công nhân tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn AMPACS INTERNATIONAL (sau đây gọi tắt là Công ty AMPACS) thuộc Khu công nghiệp Bàu Bàng, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, H và Q được Công ty AMPACS bố trí sử dụng chung một tủ đồ cá nhân (không số, không tên) để đựng tài sản, đồ dùng cá nhân trước khi vào xưởng của công ty làm việc, mỗi người giữ một chìa khóa tủ. Sáng ngày 23-02-2021, Q đến Công ty AMPACS làm việc và để 01 điện thoại di động Samsung A6 và số tiền 1.000.000 đồng vào trong tủ rồi vào xưởng làm việc. H đến sau mở tủ bỏ đồ cá nhân vào trong tủ thì thấy điện thoại và tiền của Q nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của Q. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, H đến tủ đồ lén lút lấy chìa khóa mở tủ đồ lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung A6 và số tiền 1.000.000 đồng bỏ vào áo khoác rồi trở lại làm việc bình thường. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Q xuống lấy đồ thì phát hiện mất 01 điện thoại di động Samsung A6 và số tiền 1.000.000 đồng, Q hỏi H thì H nói không biết và đi về. Sau đó, Q trình báo toàn bộ sự việc đến Công an Đồn Khu công nghiệp Bàu Bàng. Ngày 25-02-2021, tại Công an Đồn Khu công nghiệp Bàu Bàng, H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, bị hại không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Võ Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về các vấn đề khác của vụ án:
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 giấy chứng minh nhân dân Võ Văn H (phô tô); 01 điện thoại di động Samsung A6 và số tiền 500.000 đồng theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu ngày 25-02-2021.
Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã: trả lại cho bị hại anh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A6 và số tiền 500.000 đồng theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 23-3-2021.
Theo Bản Kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐG ngày 26-02-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bàu Bàng kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6 đã qua sử dụng, Hội đồng thống nhất định giá 1.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: ngày 25-3-2020, bị cáo H đã thỏa thuận trả lại cho bị hại Q số tiền 500.000 đồng, bị hại đã nhận số tiền 500.000 đồng và không có yêu cầu gì khác.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về các vấn đề trên.
- Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Bản Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Về mức hình phạt: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Văn H mức án từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố, trình bày luận tội của Viện Kiểm sát.
Bị cáo Võ Văn H nói lời sau cùng: bị cáo đã biết hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bàu Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn H đã khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 23-02-2021, tại Công ty AMPACS thuộc Khu công nghiệp Bàu Bàng, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, bị cáo Võ Văn H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu SamSung, loại A6 đã qua sử dụng và số tiền 1.000.000 đồng của bị hại là Phạm Minh Q, trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.500.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, phù hợp lời khai của bị hại, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nH bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hậu quả là bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại 01 điện thoại di động hiệu SamSung, loại A6 đã qua sử dụng và số tiền 1.000.000 đồng. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì tham lam tư lợi, muốn hưởng thụ nH lười lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét bị cáo Võ Văn H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt không lớn nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Võ Văn H là đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: ngày 25-3-2020, bị cáo H đã thỏa thuận trả lại cho bị hại Q số tiền 500.000 đồng, bị hại Q đã nhận số tiền 500.000 đồng và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về xử lý vật chứng: ngày 23-3-2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng đã trả lại cho bị hại Phạm Minh Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A6 và số tiền 500.000 đồng là đúng theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Võ Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135 và khoản 2 Điều 136, các khoản 1, 2 Điều 260, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Mục 1, Phần I Danh mục Án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo) của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Võ Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn H 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Võ Văn H cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ theo quy định tại Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.
4. Về án phí: bị cáo Võ Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Bàu Bàng; - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng; - Công an huyện Bàu Bàng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Ủy ban nhân dân phường T thành phố D, tỉnh Bình Dương; - Cổng TTĐT TANDTC (nếu có); - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Dũng |