vanban.org

Bản án 43/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Lý Thị H được ly hôn với ông Hồ Viết P.

Về con chung: Bà H và ông P có hai con chung tên Hồ Tường L, sinh ngày 18-02-1996 và Hồ Nhân N, sinh ngày 03-5-2000, hiện sức khỏe các con của ông bà vẫn bình thường, đủ tuổi thành niên, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nợ ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Lý Thị H được ly hôn với ông Hồ Viết P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 43/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19-01-2021
V/v “ly hôn giữa bà H và ông P”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Chính

Ông Nguyễn Đình Thọ

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 955/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2021/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị H, sinh năm 1969; Cư trú tại: Hẻm A đường LTT (Tổ A, khu vực B, phường Quang Trung), thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Bị đơn: Ông Hồ Viết P, sinh năm 1969; Cư trú tại: Hẻm A đường LTT (Tổ A, khu vực B, phường Quang Trung), thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 23-10-2020 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lý Thị H trình bày: Bà và ông Hồ Viết P kết hôn vào ngày 20/5/1995 theo giấy chứng nhận kết hôn số 58, đăng ký kết hôn tại UBND phường Quang Trung, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định, trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu. Kể từ ngày chung sống vợ chồng bà sống hạnh phúc bình thường cho đến năm 2010 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, mặt khác ông P thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, chơi cờ bạc và còn quan hệ với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Bà đã nhiều lần tìm biện pháp để hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không được. Đến năm 2016 mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trầm trọng nên bà và ông P đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Mặc dù cả hai vẫn ở chung một nhà nhưng phần ai nấy sống, không còn quan tâm gì đến nhau, tình cảm vợ chồng không còn, nên bà yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông P để bà ổn định cuộc sống.

Về con chung: Bà và ông P có 02 con chung tên Hồ Tường L, sinh ngày 18-02-1996 và Hồ Nhân N, sinh ngày 03-5-2000, hiện sức khỏe các con của bà vẫn bình thường, đủ tuổi thành niên, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Hồ Viết P: Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng ông P vẫn cố tình vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thờ i điểm xét xử sơ thẩm . Tại phiên tòa sơ thẩm , Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vu ̣ án : Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Lý Thị H xin ly hôn ông Hồ Viết P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Ông Hồ Viết P, là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo qui định tại Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Hồ Viết P.

Về nội dung: Xét yêu cầu ly hôn của bà H, căn cứ trích lục kết hôn số 482 ngày 16/10/2020 của UBND phường Quang Trung, TP Quy Nhơn thể hiện bà Lý Thị H và ông Hồ Viết P đăng ký kết hôn tại UBND phường Quang Trung, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo giấy chứng nhận kết hôn số 58 ngày 20/5/1995, do đó Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lý Thị H và ông Hồ Viết P là hôn nhân hợp pháp. Bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông P vì mâu thuẫn giữa bà và ông P đã trầm trọng không có khả năng hàn gắn, bà và ông P đã sống ly thân thời gian dài, tình cảm không còn, không ai còn sự quan tâm, chăm sóc đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông P đến Tòa để khai báo, hòa giải tạo điều kiện cho ông P hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông P cố tình vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy hôn nhân giữa bà H và ông P không còn thương yêu, quý trọng, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống vợ chồng, do đó hôn nhân giữa bà H và ông P đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của bà H là có căn cứ, phù hợp theo qui định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình và cũng phù hợp với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà H và ông P có hai con chung tên Hồ Tường L, sinh ngày 18-02-1996 và Hồ Nhân N, sinh ngày 03-5-2000, hiện sức khỏe các con của ông bà vẫn bình thường, đủ tuổi thành niên, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 buộc bà Lý Thị H phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho bà Lý Thị H được ly hôn với ông Hồ Viết P.

2. Về con chung: Bà H và ông P có hai con chung tên Hồ Tường L, sinh ngày 18-02-1996 và Hồ Nhân N, sinh ngày 03-5-2000, hiện sức khỏe các con của ông bà vẫn bình thường, đủ tuổi thành niên, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Lý Thị H phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002915 ngày 26/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn. Bà H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Lý Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Hồ Viết P vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ