- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cầm Bá H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo, ông Hà Văn Th, anh Cầm Bá T và bà Lang Thị S được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2020/HSST Ngày: 28-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Như Đa.
2. Ông Lương Thành Trung.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lô Văn Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 28/7/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 20120 đối với bị cáo: Cầm Bá H, tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2001 tại huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cầm Bá H và bà Lang Thị S; Vợ - Con: Chưa có; Tiền án - Tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2020 đến ngày 28/5/2020, hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/7/2020 trong một vụ án khác; Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Trang. Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh số 2. Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Bị hại:
1. Anh Lò Văn D. Sinh năm 1993. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
2. Ông Hà Văn Th. Sinh năm 1972. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
3. Ông Lô Văn L. Sinh năm 1972. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
4. Anh Cầm Bá T. Sinh năm 1986. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
5. Bà Cầm Thị Ng. Sinh năm 1978. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lang Thị S. Sinh năm 1983. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Lương Văn H. Sinh năm 1994. Trú tại: Bản C, xã C, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian tháng 3/2020, Cầm Bá H đã một mình thực hiện 05 hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Thứ nhất: Khoảng đầu tháng 3/2020, H đi đến cửa hàng tạp hóa của anh Lò Văn D để chơi. Khi đến nơi thì không thấy ai nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đi vào phía trong cửa hàng rồi đến một chiếc tủ vải lấy số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng), sau đó mở ngăn kéo tủ nhựa lấy 01 sợi dây chuyền bằng bạc. Sau đó H đưa chiếc dây chuyền về nhà cất giấu và tiêu xài cá nhân hết số tiền đã trộm cắp được.
Thứ hai: Khoảng giữa tháng 3/2020, H đi đến nhà ông Hà Văn Th để chơi. Khi đến nơi không thấy ai ở nhà nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đi vào trong nhà rồi đến phòng ngủ lục chăn lấy trộm số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) và 03 vòng tay mạ bạc treo trên tường. Sau đó H đưa các vòng tay về cất giấu và tiêu xài cá nhân hết số tiền đã trộm cắp được.
Đến một ngày gần cuối tháng 3/2020, H đã nhờ anh Lương Văn H chở đi lên địa bàn huyện Quế Phong để bán các tài sản đã trộm cắp được của anh D và ông Th. Anh Lương Văn H có hỏi về nguồn gốc của số tài sản trên thì H nói là tài sản của H. Khi đến khu vực thị trấn Kim Sơn thì H đã bán được sợi dây chuyền bằng bạc cho một quán vàng bạc đá quý (H không nhớ rõ địa chỉ của quán) lấy số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), còn 03 vòng tay mạ bạc không bán được nên H đưa về. Số tiền bán được thì bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết.
Thứ ba: Ngày 26/3/2020, Cầm Bá H đến nhà ông Lô Văn L để chơi. Khi đến nơi không thấy ai ở nhà nên H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. H đi vào trong nhà rồi mở tủ quần áo lấy trộm số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm nghìn đồng) và 02 vòng tay mạ bạc, sau đó H tiếp tục mở tủ vải lấy trộm số tiền 900.000đ (Chín trăm nghìn đồng). Sau đó, H đưa 02 chiếc vòng tay về nhà cất giấu và đã tiêu xài cá nhân hết số tiền đã trộm cắp được.
Thứ tư: Ngày 30/3/2020, Cầm Bá H đi đến nhà anh Cầm Bá T để chơi. Khi đến nơi thì H đi vào trong nhà nhưng không thấy ai và H nhìn thấy có 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) để bên cạnh chiếc Tivi nên nảy sinh ý định trộm cắp số tiền trên. H đã lấy tờ tiền và lấy trong người ra 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ đặt vào vị trí tờ tiền đã lấy. Số tiền trộm cắp được, H đã tiêu xài hết cho mục đích cá nhân.
Thứ năm: Ngày 31/3/2020, Cầm Bá H đi đến nhà chị Cầm Thị Ng để chơi. Khi đến nơi thì không thấy ai ở nhà nên đã đi vào phòng ngủ mở túi xách lấy trộm số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) sau đó đi về nhà. Số tiền này thì H đã tiêu xài hết vào mục đích cá nhân.
Ngày 02/4/2020, H đã đến đầu thú tại cơ quan Công an huyện Quỳ Châu và giao nộp lại 05 chiếc vòng tay mạ bạc đã trộm cắp trước đó đồng thời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản Kết luận định giá số 08/KL-HĐĐGTS ngày 10/4/2020 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự UBND huyện Quỳ Châu kết luận: 01 dây chuyền bằng kim loại màu bạc, có giá trị thành tiền là 1.400.000đ (Một triệu, bốn trăm nghìn đồng); 02 vòng kim loại hình trụ tròn màu trắng vàng có tổng giá trị thành tiền là 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng); 03 vòng kim loại hình trụ tròn màu vàng có tổng giá trị thành tiền là 90.000đ (Chín mươi nghìn đồng).
Những người bị hại - Anh Lò Văn D - Ông Hà Văn Th - Ông Lô Văn L - Anh Cầm Bá T - Bà Cầm Thị Ng cùng trình bày: Vào trong khoảng thời gian tháng 3/2020, anh D - ông Th - ông L - anh T và chị Ng đã bị kẻ gian lợi dụng sơ hở chiếm đoạt một số tài sản có trị giá cụ thể từng người như sau: Anh D - 1.800.000đ; ông Th - 1.590.000đ; ông L - 2.450.000đ; anh T - 300.000đ và bà Ng - 400.000đ. Những người bị hại đã làm đơn trình báo cơ quan Công an huyện Quỳ Châu và quá trình điều tra đã làm rõ hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của Cầm Bá H và thu giữ lại một số tài sản. Hiện nay, cơ quan điều tra đã trả lại cho những người bị hại tài sản nói trên và mẹ của Cầm Bá H (Bà Lang Thị S) đã bồi thường đầy đủ thiệt hại cho những người bị hại. Những người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ về mặt hình phạt cho bị cáo Huynh.
Người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan - Bà Lang Thị S trình bày: Vào tháng 3/2020, Cầm Bá H đã có các hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của những người bị hại trong vụ án này. Do thời điểm đó bị cáo H không có tiền bồi thường nên đã nhờ bà trả cho những người bị hại với tổng số tiền là 6.000.000đ (Sáu triệu đồng). Nay bị cáo H đã hoàn trả lại cho bà số tiền trên. Vì vậy, bà không có yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 37/CT-VKS-HS ngày 23/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu đã quyết định truy tố Cầm Bá H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật như viện dẫn của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo mức án từ 03 đến 06 tháng tù.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung truy tố của Cáo trạng và không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện về cơ bản đều hợp pháp. Trong khoảng thời gian tháng 3 năm 2020, bị cáo đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác, trong đó có 01 lần giá trị tài sản là 2.450.000đ và 04 lần giá trị tài sản dưới 2.000.000đ. Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” chỉ đối với 01 hành vi có giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 2.000.000đ là chưa đầy đủ. Bởi vì, đối với 04 hành vị còn lại thì bị cáo chưa bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính bằng hình thức gì. Do vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tất cả 05 hành vi với tổng số tiền là 6.540.000đ.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người bị hại: Tại phiên tòa hôm nay, anh Lò Văn D - ông Lô Văn L và bà Cầm Thị Ng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra anh D - ông L và bà Ng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Xét thấy, việc vắng mặt anh D - ông L và bà Ng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa. Căn cứ Điều 292 BLTTHS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Lò Văn D - ông Lô Văn L và bà Cầm Thị Ng.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Vào khoảng thời gian trong tháng 3/2020, bị cáo đã có nhiều lần có hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của những người bị hại để sử dụng cho mục đích tiêu xài cá nhân với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 6.540.000đ (Sáu triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Ngày 02/4/2020, bị cáo đã đầu thú tại cơ quan Công an huyện Quỳ Châu và giao nộp số lại một số tài sản nói trên và quá trình điều tra thì gia đình bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho những người bị hại.
Thấy rằng lời khai của bị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo đã nhiều lần có hành vi lén lút chiếm đoạt trái phép của anh Lò Văn D - ông Hà Văn Th - ông Lô Văn L - anh Cầm Bá T - bà Cầm Thị Ng số tài sản có tổng trị giá là 6.540.000đ (Sáu triệu, năm trăm bốn mươi nghìn đồng). Như vậy, bị cáo Cầm Bá H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rằng tài sản của người khác là bất khả xâm phạm. Vì bản thân lười lao động, không có nghề nghiệp và thu nhập nên bị cáo đã có hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác nhằm phục vụ cho mục đích tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất an ninh trật tự trên địa bàn và gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm và lên cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhằm răn đe, cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người tốt, lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội.
Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ biết ăn năn hối cải. Đây là lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật thì bị cáo đã đến đầu thú và tự nguyện giao nộp lại một số tài sản đã chiếm đoạt cũng như vận động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại. Những người bị hại xin giảm nhẹ cho bị cáo về mặt hình phạt. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 - khoản 2 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[2.3] Hình phạt bổ sung: Bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn và không có tài sản. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[2.4] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét.
[2.5] Sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt những tài sản của các bị hại thì bị cáo đã bán và sử dụng để chi phí và tiêu xài cá nhân với tổng số tiền 6.400.000đ (Sáu triệu, bốn trăm nghìn đồng). Quá trình điều tra thì mẹ đẻ của bị cáo (Bà Lang Thị S) đã bồi thường cho những người bị hại số tiền 6.000.000đ và hiện nay bị cáo cũng đã hoàn trả cho bà S cũng như những người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thẩm. Xét thấy, bị cáo đã thu lợi bất chính số tiền 400.000đ do phạm tội mà có. Vì vậy, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền này từ bị cáo.
[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 - khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 BLHS. Xử phạt Cầm Bá H 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời hạn đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2020 đến 28/5/2020.
- Căn cứ Điều 47 BLHS. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng) của bị cáo.
- Căn cứ vào điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc Cầm Bá H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
- Bị cáo, ông Hà Văn Th, anh Cầm Bá T và bà Lang Thị S được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lò Văn D, ông Lô Văn L và bà Cầm Thị Ng được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND; Công an; THADS H.Quỳ Châu; - VKSND; Trại tạm giam CA T.Nghệ An; - Phòng KTNV-TAND tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; Bị hại; Người CQLNVLQ; - Lưu HSVA. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoài Nam |