vanban.org

Bản án 43/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Tuyên án 10/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, ngày 09/3/2020. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Văn Trường phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Ý YÊN
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2020/HS-ST
Ngày: 10 - 7 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đinh Phúc.

Ông Vũ Xuân Trúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nam – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.

- Đại diện VKSND huyện Ý Yên tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tình – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Tr, sinh ngày 14/02/2002; nơi cư trú: thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh N; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông Nguyễn Văn T sinh năm 1978 và bà Phạm Thị H sinh năm 1979 đều trú tại thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh N; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/3/2020 đến ngày 12/3/2020 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ý Yên. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Phạm Thị Hằng, sinh năm 1979; có mặt.

Địa chỉ: thôn T, xã Tr, huyện Y, tỉnh N.

- Người tham gia tố tụng khác:

Những người làm chứng:

- Anh Bùi Văn Th, sinh năm 1993; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đông Hậu, xã Yên Cường, huyện Y, tỉnh N.

- Anh Đinh Văn T, sinh năm 1991; vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện Y, tỉnh N.

- Chị Lò Thị Th1, sinh năm 2004; vắng mặt.

Địa chỉ: Bản V, xã B, huyện Th, tỉnh S.

- Anh Ngô Văn D, sinh năm 1992; vắng mặt.

Địa chỉ: Đội 14, xã Nh, huyện Y, tỉnh N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h15' ngày 08/3/2020, tổ công tác Công an huyện Ý Yên phối hợp với Công an xã Nh kiểm tra hành chính nhà trọ của Bùi Văn Th, sinh năm 1993 tại Đội 14, xã Nh, huyện Y, tỉnh N. Tại nhà Th lúc này có: Bùi Văn Th, sinh năm 1993; Đinh Văn T, sinh năm 1991; Nguyễn Văn Tr, sinh năm 2002; Lò Thị Th1, sinh năm 2004 đang có mặt tại nhà của Th. Khi tổ công tác tiến hành kiểm tra thì Nguyễn Văn Tr bỏ chạy lên sân thượng tầng ba nhà Th, tổ công tác đuổi theo thì Tr ném xuống vườn nhà Th 01 hộp sắt KT (10x2,5x1,5) cm màu xanh có chữ DOUBLEMINT, bên trong có 05 gói nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng, Tr khai nhận đều là ma túy đá Tr mua với giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) mục đích bán để kiếm lời. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong 05 gói ma túy đá ký hiệu M; thu giữ 01 hộp sắt và 01 điện thoại di động màu đen đã cũ, màn hình đen trắng mặt trước có chữ Mobiistar, B221. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Ngày 09/3/2020 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên ra quyết định trưng cầu giám định số 40. Tại kết luận giám định số 282/GĐKTHS ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 05 gói nilon màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy Methamphetamine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,745 gam.

Về nguồn gốc số ma túy: Nguyễn Văn Tr khai mua người tên D ( con ông B) ở đội 14, Yên Nhân, Ý Yên, Nam Định. Quá trình điều tra, xác minh tại đội 14, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định có 01 người tên Ngô Văn D, sinh năm 1992 con ông Ngô Văn B, sinh năm 1969. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã làm việc với Ngô Văn D, nhưng D không biết Tr là ai, không liên lạc với Tr để bán ma túy. Tiến hành đối chất, Nguyễn Văn Tr xác nhận Ngô Văn D không phải là người Tr đã liên lạc, gặp và mua ma túy. Do đó, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên tách ra tiến hành xác minh, xử lý sau.

Về vật chứng: Toàn bộ số ma túy cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên thu giữ của Nguyễn Văn Tr được hoàn lại sau giám định và 01 hộp sắt KT (10x2,5x1,5) cm màu xanh có chữ DOUBLEMINT là vật chứng của vụ án.

Đối với chiếc điện thoại di động màu đen đã cũ, màn hình đen trắng, mặt trước có chữ Mobiistar B221, qua điều tra xác định là của chị Phạm Thị H, sinh năm 1979 (mẹ đẻ của Tr), không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 42/Ctr - VKS- YY ngày 17/6/2020 của VKSND huyện Ý Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Ý Yên trình bày quan điểm luận tội giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Văn Tr phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn Tr từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, ngày 09/3/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị Tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý được hoàn lại sau giám định; 01 hộp sắt KT (10x2,5x1,5) cm màu xanh có chữ DOUBLEMINT là vật chứng của vụ án.

Đề nghị trả lại cho chị Phạm Thị H 01 chiếc điện thoại di động màu đen đã cũ, màn hình đen trắng, mặt trước có chữ Mobiistar B221.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay. Lời khai phù hợp với lời khai người làm chứng; biên bản về việc bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23h15 phút ngày 08/3/2020 tại đội 14, xã Nh, huyện Y , tỉnh N, Nguyễn Văn Tr đã có hành vi tàng trữ trái phép 05 gói ma túy là Methamphetamine có tổng khối lượng 0,745 gam mục đích bán để kiếm lời thì bị lực lượng Công an huyện Y bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng của VKSND huyện Ý Yên đã truy tố là đúng pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính mạng, sức khỏe con người, làm băng hoại đến giá trị chuẩn mực đạo đức trong đời sống nhân dân. Vì vậy, hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo học vấn thấp có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận hợp lệ. Như vậy, bị cáo Nguyễn Văn Tr được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, công việc không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý được hoàn lại sau giám định và 01 hộp sắt KT (10x2,5x1,5) cm màu xanh có chữ DOUBLEMINT là vật chứng của vụ án. Đối với chiếc điện thoại di động màu đen đã cũ, màn hình đen trắng, mặt trước có chữ Mobiistar B221, qua điều tra xác định là của chị Phạm Thị Hằng (là mẹ đẻ của Tr), không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Phạm Thị Hằng.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ, ngày 09/3/2020.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy lượng ma tuý được hoàn lại sau giám định và 01 hộp sắt KT (10x2,5x1,5) cm màu xanh có chữ DOUBLEMINT.

Trả lại cho chị Phạm Thị H 01 chiếc điện thoại di động màu đen đã cũ, màn hình đen trắng, mặt trước có chữ Mobiistar B221.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Ý Yên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ý Yên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Tr, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong Tr hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ