vanban.org

Bản án 43/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 02/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ch phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ch 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 06/4/2020 . Về án phí: Buộc bị cáo Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình Ch - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ch phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2020/HS-ST
Ngày: 02/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông An Văn Khoái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Khánh.

Bà Nguyễn Thị Hoài.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2020/HSST ngày 08 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình Ch, sinh năm 1989 tại tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn PT, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình Bình (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Mến; Tiền sự: Không.

Tiền án:

+ Bản án số 123/2007/HSST ngày 24/12/2007 của TAND thị xã Uông Bí xử phạt 15 tháng tù về tội " Lạm dụng chiếm đoạt tài sản". Chấp hành xong hình tù ngày 11/02/2009.

+ Bản án số 05/2010/HSST ngày 29/03/2010 của TAND huyện Thanh Miện xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/01/2011.

+ Bản án số 113/2012/HSST ngày 25/01/2013 của TAND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2013.

+ Bản án số 278/2014/HSST ngày 11/11/2014 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2016.

+ Bản án số 269/2016/HSST ngày 30/12/2016 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản(bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 138 BLHS năm 1999). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/04/2020 tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Bị hại:

+ Bà Đinh Thị Miên, sinh năm: 1948; Trú tại: Thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Chị Nguyễn Thị Hiền, sinh năm: 1970; Trú tại: Thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Hữu Khoa, sinh năm: 1999; Trú tại: Thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Tạ Thị Lan Anh, sinh năm 1998; Trú tại: Thôn T L, xã N H, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Vũ Duy Thoan, sinh năm 1995; Trú tại: Thôn Đ G, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Trưa ngày 29/03/2020, Nguyễn Đình Ch điều khiển xe mô tô BKS 34B1-273.49 đến thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cổng nhà bà Đinh Thị Miên, sinh năm 1948, ở thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện nhìn thấy cửa cổng, cửa nhà không khóa nên Ch dừng xe trước cổng rồi đi bộ vào phòng khách quan sát không thấy có tài sản gì. Ch đi vào phòng ngủ thấy có tủ tường 3 ngăn, Ch dùng tay mở 02 ngăn ngoài không thấy có tài sản, Ch tìm được chùm chìa khóa trên nóc tủ mở ngăn còn lại thì thấy trong túi áo khoác có 01 túi nilon bên trong có số tiền 2.200.000 đồng và 04 sổ tiết kiệm, 02 thẻ lương, thẻ bảo hiểm y tế, giấy chứng minh nhân dân, thẻ thanh toán điện, thể hưu trí của bà Miên. Ch bỏ tiền và toàn bộ giấy tờ vào cạp quần rồi ra lấy xe đi về nhà. Số tiền trộm cắp được đã chi tiêu cá nhân hết. Quá trình điều tra Ch tự nguyện giao nộp 04 sổ tiết kiệm, 02 thẻ lương, thẻ bảo hiểm y tế, giấy chứng minh nhân dân, thẻ thanh toán điện, thẻ hưu trí.

Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/04/2020, Nguyễn Đình Ch điều khiển xe mô tô BKS: 34B1-273.49 đến thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước cổng nhà chị Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1980 ở thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương nhìn thấy không có ai, cửa khép không khóa. Ch dựng xe ngoài cổng đi vào mở phòng khách rồi vào phòng ngủ thấy trên bàn có 01 chiếc Sam sung Galaxy S7 màu đen của chị Nguyễn Thị Hiền và trên giường có 01 chiếc máy tính xách tay nhãn nhiệu Acer Aspire F15 Core i5-7200U màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37fw màu trắng trên bàn của anh Vũ Văn Khoa, sinh năm 1999 (là con của chị Nguyễn Thị Hiền) ở thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện. Ch cầm 02 chiếc điện thoại cho vào túi quần và máy tính xách tay ra lấy xe đi về phòng trọ của anh Vũ Duy Thoan, sinh năm 1995 ở thôn La Ngoại, xã N H, huyện Thanh Miện để trả xe và nhờ anh Thoan chở đến nhà Tạ Thị Lan Anh, sinh năm 1998 ở thôn T L, xã N H, huyện Thanh Miện để ngủ. Khi đến thấy Tạ Thị Lan Anh đang ngủ, Ch để chiếc máy tính xách tay và 02 chiếc điện thoại dưới gầm giường. Quá trình điều tra Nguyễn Đình Ch đã tự nguyện giao nộp 01 chiếc máy tính xách tay và 02 chiếc điện thoại di động( 01 chiếc OPPO A37fw màu trắng; 01 chiếc Sam sung Galaxy S7 màu đen).

Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐG ngày 04/04/2020 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire F15 Core i5-7200U màu bạc, Ram 4G đã qua sử dụng có giá là 5.500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37fw màu trắng đã qua sử dụng có giá là 600.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7 màu đen đã qua sử dụng có giá trị là 800.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 6.900.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 45/VKS-HS ngày 08 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Đình Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Ch khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, s, h khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình Ch từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 06/4/2020.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NhËn ®Þnh cña tßa ¸n:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về Thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

- Trưa ngày 29/03/2020, Nguyễn Đình Ch đã lén lút vào nhà bà Đinh Thị Miên, sinh năm 1948 ở thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Đình Ch trộm cắp số tiền 2.200.000 đồng.

- Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 03/04/2020, Nguyễn Đình Ch đã lén lút vào gia đình chị Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1980 ở thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy S7 của chị Nguyễn Thị Hiền và 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Acer Aspire F15 Core i5 - 7200U màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37fw màu trắng của anh Vũ Văn Khoa (là con của chị Hiền). Tổng tài sản trộm cắp được là 9.100.000 đồng.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản lợi dụng lúc chủ sở hữu tài sản không để ý.

Năm 2016, bị cáo đã bị kết án “Trộm cắp tài sản”, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm nguy hiểm”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2019, chưa được xóa án tích, nay bị cáo tiếp tục hành vi phạm tội trộm cắp với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) thì thấy: Bị cáo không có tiền sự;

- Về tiền án: Bị cáo có nhiều tiền án, đã bị nhiều Tòa án xét xử; Tại Bản án số 123/2007/HSST ngày 24/12/2007 của TAND thị xã Uông Bí xử phạt 15 tháng tù về tội " Lạm dụng chiếm đoạt tài sản". Chấp hành xong hình tù ngày 11/02/2009; Bản án số 05/2010/HSST ngày 29/03/2010 của TAND huyện Thanh Miện xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/01/2011; Bản án số 113/2012/HSST ngày 25/01/2013 của TAND huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/12/2013; Bản án số 278/2014/HSST ngày 11/11/2014 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/02/2016; Bản án số 269/2016/HSST ngày 30/12/2016 của TAND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 2 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự" Tái phạm nguy hiểm" quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 138 BLHS năm 1999). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2019.

Trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện 02 hành vi phạm tội, mỗi hành vi đều đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, vì vậy bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường cho người bị hại, giá trị tài sản không lớn đã trả lại cho người bị hại nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Xong dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa Ch trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện kinh tế của bị cáo khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bà Đinh Thị Miên, sinh năm 1948 ở thôn T S, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương số tiền 2.200.000 đồng; Chị Nguyễn Thị Hiền và anh Vũ Văn Khoa (Con trai chị Hiền) đã nhận lại được các tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đặt ra để giải quyết.

[7] Về vật chứng:

- Cơ quan điều tra đã trả lại 04 quyển sổ tiết kiệm; 02 thẻ lĩnh lương; 01 chứng minh thư nhân dân; 01 thẻ thanh toán tiền nước; 01 thẻ hưu trí cho bà Đinh Thị Miên; Trả lại 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Acer, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37fw màu trắng cho anh Vũ Hữu Khoa và 01 điện thoại Samsung Galaxy S7 màu đen cho chị Nguyễn Thị Hiền là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định.

- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu trắng BKS 34B1-273.49 là của anh Vũ Duy Thoan, sinh năm 1995 ở thôn Đ G, xã T G, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương cho Ch mượn, anh Thoan không biết Ch sử dụng xe mô tô để đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ quản lý, xử lý chiếc xe của anh Thoan nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình Ch phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Ch 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 06/4/2020 .

3. Về án phí: Buộc bị cáo Ch phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ