vanban.org

Bản án 43/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội "Cướp tài sản".

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 8 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2020. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Vũ Ngọc T và bị hại Đào Quốc V: Bị cáo Vũ Ngọc T bồi thường cho anh Đào Quốc V các khoản: Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Ngọc T - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội "Cướp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2020/HS-ST
Ngày: 25-9-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Công Nhận

2. Ông Mạc Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại nhà Văn hóa thôn Xuân An, xã Thanh Khê, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2020/TLST-HS ngày 31/8/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020, đối với bị cáo:

Vũ Ngọc T, sinh năm 2001; nơi sinh và nơi cư trú: thôn M, xã Q, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Ngọc V1 và bà Vũ Thị T1; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 15/5/2020, chuyển tạm giam ngày 17/5/2020 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Đào Quốc V, sinh năm 1996; có mặt

ĐKHKTT: Thôn N, Thị trấn C, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Hiện ở: Số nhà n, ngõ 366, đường Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

*Người làm chứng:

+ Chị Trần Thị Tho, sinh năm 1993; vắng mặt

Địa chỉ: Số nhà n, ngõ 366, đường Mỹ Đình, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

+ Anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1989; vắng mặt

Địa chỉ: Xã M1, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương

+ Anh Nguyễn Quý L, sinh năm 1984; có mặt

+ Anh Nguyễn Quang C1, sinh năm 1966; vắng mặt

+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1939; vắng mặt

+ Anh Nguyễn Văn N2, sinh năm 1962; vắng mặt

+ Anh Nguyễn Quý K, sinh năm 1984; vắng mặt

+ Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1965; vắng mặt

+ Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977; có mặt

+ Chị Nguyễn Thị V2, sinh năm 1973; vắng mặt

Đều có địa chỉ: Thôn L, xã V3 , huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/5/2020, Vũ Ngọc T đang ngồi chơi tại khu vực ngã ba đường Kim Đồng, phường Giáp Bát, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thì có anh Đào Quốc V làm nghề xe ôm Grap điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen, biển số 28L1-076.37 đến hỏi T có đi đâu thì chở. Thấy anh V có xe máy và sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, T nảy sinh ý định cướp tài sản của anh V nên bảo anh V chở về xã V, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương với giá 550.000 đồng. Anh V đưa cho T đội chiếc mũ bảo hiểm (loại mũ nửa đầu màu vàng kem) rồi điều khiển xe máy chở T về xã Tân V3, huyện Thanh Hà theo chỉ dẫn của T. Đến khoảng hơn 3 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực đường bê tông liên xóm 6 và 7, địa phận thôn L, xã V3, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, lúc này đêm tối vắng người, anh V điều khiển xe máy đi chậm, thấy điều kiện thuận lợi T liền lấy trong ba lô ra 01 chiếc kìm gấp (đa năng) bằng kim loại có 2 chuôi cầm màu đen, mỗi chuôi dài 10cm, trong chuôi cầm gắn 01 lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại dài 7cm, rộng 01cm, T dùng tay trái cầm kìm rồi dùng phần lưỡi dao gắn với kìm đâm một nhát vào vùng cổ trái của anh V. Do bị đâm bất ngờ từ phía sau nên xe máy của anh V bị nghiêng đổ, T nhảy ra khỏi xe và tiếp tục cầm dao đâm về phía anh V nhưng không trúng thì lưỡi dao bị gập lại làm T bị thương phần ngón tay út trái. Anh V hô “mày thích cướp à” rồi lấy chiếc tua vít trong cốp xe máy cầm trên tay để tự vệ, T bỏ chạy vào khu vực vườn ổi gần đó, cất chiếc kìm vào trong ba lô rồi lấy chiếc áo màu đen xé một mảnh vải để băng vết thương, sau đó T vứt áo và mũ bảo hiểm tại vườn ổi rồi đi bộ ra đường 5 bắt xe khách lên thành phố Hà Nội. Anh V bị thương, được đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều trị, đến ngày 28/5/2020 được ra viện.

Kết luận giám định pháp y về thương tích đối với anh Đào Quốc V của Phòng giám định pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương số 198/TgT ngày 13/7/2020 xác định: Anh V có vết thương vùng cổ trái gây đứt động mạch thanh quản trên trái, đâm qua xoang lê, đã xử lý, hiện ổn định, để lại sẹo, dẫn lưu kích thước lớn và nhỏ vùng cổ trái. Tổn thương trên có đặc điểm do vật nhọn sắc gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 8% là phù hợp.

Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HDDGTS ngày 29/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản-UBND huyện Thanh Hà xác định: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen, biển số 28L1-076.xx trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus trị giá 2.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 13.500.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 26/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Vũ Ngọc T về tội Cướp tài sản theo điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi cướp tài sản của anh Đào Quốc V như cáo trạng đã mô tả. Bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí thiệt hại mà anh V yêu cầu, tổng là 69.483.800đ.

- Bị hại trình bày về hành vi phạm tội của bị cáo T như cáo trạng đã mô tả, đề nghị Tòa án xử phạt nghiêm đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị bị cáo bồi thường: Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức = 41.342.819đ; thu nhập thực tế bị mất của người thân chăm sóc cho anh = 2.880.000đ; thu nhập thực tế bị mất của anh V = 13.500.000đ; chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương = 8.986.500đ; chi phí sơ cứu và thuê xe của T tâm y tế huyện Thanh Hà 1.000.000đ, chi phí vận chuyển từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức là 1.774.500đ. Tổng các khoản nêu trên = 69.483.800đ (đã làm tròn). Ngoài ra, anh V không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Cướp tài sản”. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự; Xử phạt bị cáo T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2020. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc kìm gấp (đa năng) bằng kim loại, trong chuôi cầm gắn một lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại; 01 ba lô; 01 áo phông; 01 áo khoác; 01 áo sơ mi; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu vàng kem; 01 tua vít. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận tự nguyện của bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền 69.483.800đ mà bị hại yêu cầu. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định; lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 3 giờ ngày 13/5/2020, tại khu vực đường bê tông liên xóm 6 và 7, thôn L, xã V3, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Vũ Ngọc T đã cầm chiếc kìm gấp đa năng, trong chuôi cầm gắn một lưỡi dao sắc nhọn dài 07cm, rộng 01cm, đâm một nhát vào vùng cổ trái anh V bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8%, nhằm chiếm đoạt 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Wave Anpha màu đen, biển số 28L1-076.3xx trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s Plus trị giá 2.500.000 đồng; tổng trị giá tài sản mà bị cáo muốn chiếm đoạt là 13.500.000 đồng.

Hành vi dùng vũ lực của bị cáo nhằm chiếm đoạt tài sản của anh V đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp tài sản theo Điều 168 Bộ luật hình sự. Do bị cáo sử dụng chiếc kìm gấp đa năng có gắn lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại, được coi là phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại mục 2.2 phần 1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tặng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh V yêu cầu bị cáo bồi thường: Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức = 41.342.819đ; thu nhập thực tế bị mất của người thân chăm sóc cho anh = 2.880.000đ; thu nhập thực tế bị mất của anh V= 13.500.000đ; chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương 8.986.500đ; chi phí sơ cứu và thuê xe của T tâm y tế huyện Thanh Hà là 1.000.000đ, chi phí vận chuyển từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức là 1.774.500đ. Tổng các khoản nêu trên = 69.483.800đ (đã làm tròn). Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường toàn bộ chi phí mà bị hại yêu cầu. Xét thấy, đây là ý chí và sự thỏa thuận tự nguyện của các bên, không trái đạo đức, không vi phạm pháp luật nên cần được chấp nhận.

Về vật chứng: Đối với 01 chiếc kìm gấp đa năng bằng kim loại có hai chuôi cầm màu đen, mỗi chuôi dài 10cm, trong chuôi cầm gắn 01 lưỡi dao sắc nhọn bằng kim loại dài 07cm, rộng 01cm; 01 ba lô nhãn hiệu Panasonic, màu đỏ đen có hai quai đeo; 01 áo phông màu đen cổ áo và 2 viền ống tay màu trắng, trên áo có in nhãn White diamond; 01 áo khoác màu đen liền mũ, có nền xanh ở hai bả vai in nhãn Nike; 01 áo sơ mi bằng vải màu xanh trên áo có hoa văn bị cắt xé ở ống tay áo phải; tem áo ghi Binkenzo madein Vietnam; 01 mũ bảo hiểm, loại mũ nửa đầu màu vàng kem; 01 tua vít có tay cầm màu xanh dài 18cm, xét những vật chứng này không còn giá trị sử dụng, bị cáo và bị hại đều đề nghị tịch thu tiêu hủy, nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/QH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội "Cướp tài sản".

2. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 8 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/5/2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Vũ Ngọc T và bị hại Đào Quốc V: Bị cáo Vũ Ngọc T bồi thường cho anh Đào Quốc V các khoản: Chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức = 41.342.819đ; chi phí khám chữa bệnh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương = 8.986.500đ; chi phí tại T tâm y tế huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương = 1000.000đ; chi phí vận chuyển từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đến Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức = 1.774.500đ; Thu nhập thực tế bị mất của người thân chăm sóc anh V = 2.880.000đ; thu nhập thực tế bị mất của anh V= 13.500.000đ. Tổng các khoản = 69.483.800đ (đã làm tròn số).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền bồi thường nêu trên, nếu người phải thi hành chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

4. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm gấp đa năng; 01 ba lô màu đỏ đen; 01 áo phông; 01 áo khoác; 01 áo sơ mi; 01 tua vít; 01 mũ bảo hiểm màu vàng kem.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an huyện Thanh Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà).

5. Về án phí: Bị cáo Vũ Ngọc T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.474.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ