- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ HS Nguyễn Thị L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Ngô Thị L, phạm "Tội trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 43/2020/HS-ST |
Ngày: 16/9/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ – TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Nhàn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Mậu Hiệu
Bà Trương Thị Xê
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quảng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện VKSND huyện Lệ Thuỷ tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Hoàn, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 13/8/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2020/QĐXXST-HS ngày 03/9/2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Ngô Thị L, sinh năm 1964 tại huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hoá: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; không tôn giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Văn K, đã chết và bà: Nguyễn Thị L, đã chết; chồng: Phạm Văn V, đã ly hôn; con: có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 19/8/2019, bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Quảng Trị xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án 19/8/2019 về “Tội trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Chị Nguyễn Thị Quỳnh N, sinh năm 1986 nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Phạm Thị H, sinh năm 1967, nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt;
- Người làm chứng:
+ Cháu Võ Nguyễn Phước D, sinh năm 2006, nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
+ Anh Nguyễn Hữu N, sinh năm 1985, nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
- Người đại diện hợp pháp cho Võ Nguyễn Phước D: Anh Võ Phước T, sinh năm 1986, là bố đẻ của Võ Nguyễn Phước D, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 19/3/2020, Phạm Thị H điều khiển xe mô tô BKS 74L1-156.47 chở Nguyễn Thị L đi từ huyện V, tỉnh Quảng Trị ra huyện Q, tỉnh Quảng Bình, trên đường đi H và L có ghé vào một quán tạp hóa bên đường(không nhớ rõ vị trí, địa điểm cụ thể) để mua một số đồ dùng. Tại đây, L đã lấy trộm 04 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn và 01 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet, đưa cho H bỏ vào cốp xe, đồng thời nói cho H biết đã lấy trộm số thuốc lá đó trong quán tạp hóa. H tiếp tục chở L đi ra huyện Q, tỉnh Quảng Bình, khi đến cửa hàng kinh doanh vật tư dân dụng của vợ chồng anh Võ Phước T và chị Nguyễn Thị Quỳnh N ở thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình, H vào quán mua Asptomat và lọ keo. Lợi dụng chủ quán đang bán hàng, L đi vào lấy trộm 02 cuộn dây điện nhãn hiệu CADIVI, loại 4.0 để phía ngoài cửa quán, bỏ vào túi nilon mà L mang theo rồi đưa ra xe đứng đợi H. Sau khi mua hàng xong, H đi ra thì thấy 02 cuộn dây điện để phía trước xe mô tô, H hỏi thì L bảo vừa lấy trộm ở quán anh T, chị N, H không nói gì mà tiếp tục chở L đi ra hướng Quảng Bình. Trên đường đi, cả hai ghé vào quán thiết bị điện nước HN ở thôn Đ, xã H, H vào mua co ống nước, L đứng ngoài đợi thì bị anh Võ Phước T cùng chị Nguyễn Thị Quỳnh N đuổi kịp và tri hô người dân bắt giữ.
Tại kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐG và số: 24/KL-HĐĐG ngày 23/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: 04 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn có giá 440.000 đồng; 01 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet có giá 180.000 đồng; 02 cuộn dây điện hiệu CADIVI loại 4.0 có giá 1.490.000 đồng .
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy tạm giữ 05 cây thuốc lá; 12 lon nước tăng lực; 02 cuộn dây điện; 5.800.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, BKS 74L1-156.47; giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và giấy chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị H.
Ngày 20/5/2020, cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy đã trả lại 02 cuộn dây điện cho chị Nguyễn Thị Quỳnh N; ngày 15/7/2020 trả lại xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 74L1-156.47, giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô và giấy chứng minh nhân dân cho Phạm Thị H; trả lại số tiền 5.800.000 đồng và 12 lon nước tăng lực cho Nguyễn Thị L; 05 cây thuốc lá chưa xác định được bị hại đang tiếp tục tạm giữ.
Về dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Quỳnh N trình bày đã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu bồi thường gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số: 44/CT-VKSNDLT ngày 11/8/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thuỷ đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị L về "Tội trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Qua tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; Điều 38, các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 03 đến 05 tháng tù; áp dụng khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số: 21/HS-ST ngày 19/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Quảng Trị; tịch thu tiêu hủy 5 cây thuốc lá theo điểm c khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Lệ Thủy, Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng không ai có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L khai nhận tất cả hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo khai vào ngày 19/3/2020, bị cáo có nhờ chị Phạm Thị H chở đi huyện Q, tỉnh Quảng Bình để mua thuốc chữa trị thoái hóa đốt sống lưng, trên đường đi, chị H ghé một quán bên đường mua đôi găng tay, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ quán đã lấy trộm 4 cây thuốc là Sài gòn và 01 cây thuốc lá Jet và nói cho H biết đã lấy trộm số thuốc lá này trong quán. Sau đó H chở đi tiếp một đoạn, H ghé vào quán bán đồ điện nước T - N ở xã H, huyện L mua Aptomat và keo, bị cáo lợi dụng sơ hở của chủ quán, lấy trộm 02 cuộn dây điện đưa ra để ở xe mô tô và nói cho H biết, H không nói gì mà chở L đi tiếp một đoạn nữa, thì ghé vào một quán bán đồ điện nước H - N thuộc xã H, huyện L để mua co ống nước thì bị anh T, chị N đuổi theo bắt giữ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, cũng như các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án do cơ quan điều tra đã thu thập. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội(ngày 19/3/2020) trong khi đang chấp hành thời gian thử thách của hình phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo tại Bản án số: 21/2019/HS-ST ngày 19/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Quảng Trị, do đó, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Thị L đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Nguyễn Thị Quỳnh N có giá trị 1.490.000 đồng. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành "Tội trộm cắp tài sản" được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lệ Thủy là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra nhằm có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 06 tháng tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới thành hình phạt chung.
[4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình nghiên cứu toàn bộ nội dung vụ án cũng như xét hỏi công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, người bị hại chị Nguyễn Thị Quỳnh N xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố của bị cáo ông Ngô Văn K là người có công trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhất trí áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật Hình sự để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, vì bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng.
Trong vụ án, có Phạm Thị H là đồng phạm với vai trò giúp sức cho Nguyễn Thị L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại quán của chị N nhưng giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nên hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan Điều tra chuyển hồ sơ cho Công an huyện Lệ Thủy và đã có quyết định xử phạt hành chính.
[5]. Vật chứng: Những vật chứng Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về 04 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài gòn và 01 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet do bị cáo Nguyễn Thị L lấy trộm của một quán không biết cụ thể, Cơ quan Điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, đây là vật thuộc loại mau hỏng, khó bảo quản nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6].Về dân sự: Bị hại chị Nguyễn Thị Quỳnh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7].Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[8].Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Ngô Thị L, phạm "Tội trộm cắp tài sản".
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 03 (ba) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 06 tháng tù của bản án đã cho hưởng án treo thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 09(chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án. Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” để đảm bảo thi hành án(có quyết định riêng).
- Tuyên tịch thu tiêu hủy 04 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn, 01 cây thuốc lá nhãn hiệu Jet có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy.
- Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Bị cáo và người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (16/9/2020), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; -Người có QLNVLQ; - VKSND h. Lệ Thủy; - VKSND t. Quảng Bình; - TAND t. Quảng Bình; - Chi cục THADS h. Lệ Thủy; - Công an h. Lệ Thủy - Sở Tư pháp t.Quảng Bình; - Bộ phận THAHS - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Thị Nhàn |