- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn Linh trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/. Tuyên bố bị cáo Lý Văn L(tên gọi khác L B Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG ––––––––––––––– Bản án số: 43/2020/HS-ST Ngày 20/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Lê Tú Trinh
2. Ông Nguyễn Văn Đạt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2020 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2020/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Văn L (tên gọi khác L B Đ), sinh năm 1984 tại huyện KL, tỉnh Kiên Giang.
Nơi thường trú: Tổ 08, khu phố KT, thị trấn Kl, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: như trên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn Bé, sinh năm: 1954 và bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1956; Anh chị em ruột: 08 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1992. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/9/2020 đến ngày 04/9/2020 chuyển tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Tiền sự: 01 tiền sự; Ngày 29/5/2020 bị Công an thị trấn KL, huyện Kiên
- 1 -
Lương xử phạt vi phạm hành chính 2.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt).
Tiền án: 02 tiền án (đã được xóa án tích 01 tiền án).
1/ Ngày 23/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện KL, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
2/ Ngày 17/7/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Kl, tỉnh Kiên Giang xử phạt 18 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 14/10/2015, còn phải thi hành án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ và bồi thường cho anh Nguyễn Trung Trọng số tiền 8.800.000đ.
Người bị hại: 1/ Anh Võ TT, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu phố Nb, thị trấn Kl, huyện KL, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
2/ Anh Ngô Ph C, sinh năm: 1973. Địa chỉ Khu phố HL, thị trấn KL, huyện Kl, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 30/8/2020, Lý Văn L đi bộ từ nhà thuộc tổ 8, khu phố KT, thị trấn KL, huyện Kl, tỉnh Kiên Giang đến khu vực Trung tâm thương mại BH thuộc khu phố KT, thị trấn KL, huyện KL, tỉnh Kiên Giang tìm tài sản để trộm cắp, L phát hiện 01 xe kéo (còn gọi là xe cây) bằng kim loại, có sàn lót bằng ván của anh Ngô Phước Chung đang đậu không người trông giữ nên L lấy trộm. L kéo xe đến nhà của anh Võ TT đang xây tại tổ 02, khu phố Kiên Tân, thị trấn Kiên Lương phát hiện anh TT để gạch không người trông giữ nên L lấy 05 thùng gạch loại lát nền, nhãn hiệu FiCO chưa sử dụng. Sau khi lấy xong L đem tiêu thụ thì bị phát hiện.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 05 (năm) thùng gạch lát nền nhãn hiệu FiCO, mỗi thùng 04 viên, mỗi viên kích thước 60cm x 60cm, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) chiếc xe kéo (còn gọi là xe cây) bằng kim loại, có sàn lót bằng
- 2 -
ván, đã qua sử dụng.
- 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen xám, đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Kiên Lương đã trao trả cho chủ sở hữu 05 (năm) thùng gạch lát nền nhãn hiệu FICO, mỗi thùng 04 viên, mỗi viên kích thước 60cm x 60cm, chưa qua sử dụng. 01 (một) chiếc xe kéo (còn gọi là xe cây) bằng kim loại, có sàn lót bằng ván đã qua sử dụng.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 17/BKL-HĐĐGTS ngày 10/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiên Lương kết luận:
- 05 (năm) thùng gạch lát nền nhãn hiệu FiCO 60cm x 60cm, chưa qua sử dụng có giá trị 2.170.000 đồng.
- 01 (một) xe kéo bằng kim loại, có sàn lót bằng ván, xe đã qua sử dụng có giá trị 1.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 3.670.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 27/10/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương truy tố bị cáo Lý Văn Lphạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo Lý Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị mức hình phạt đối với Lý Văn Ltừ 18 tháng đến 24 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiên Lương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
- 3 -
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/8/2020, Lý Văn L đã trộm 01 (một) chiếc xe kéo của anh Ngô Ph C tại khu phố KT, thị trấn Kl sau đó kéo xe đến tổ 02, khu phố KT, thị trấn KL phát hiện gạch lát nền của anh Võ TT không người trông giữ nên tiếp tục lấy trộm 05 (năm) thùng để lên xe kéo tìm nơi tiêu thụ thì bị phát hiện. Tổng giá trị tài sản L trộm cắp là 3.670.000đ.
Tại tòa bị cáo L khai nhận hành vi của mình, lời khai nhận các bị cáo phù hợp với bản cáo trạng, lời khai người bị hại và vật chứng có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ kết luận Lý Văn L phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng lợi dụng đêm khuya không người trông giữ đã lén lút lấy cắp tài sản của anh C và anh TT có giá trị 3.670.000 đồng. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Bị cáo có khả năng tự lao động lương thiện để có thu nhập nhưng do lòng tham và thiếu suy nghĩ đã thực hiện hành vi trái pháp luật nên phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình gây ra.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo có tiền án chưa được xóa án tích mà còn phạm tội nên thuộc tình tiết tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 bộ luật hình sự.
Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen xám, đã qua sử dụng.
- 05 (năm) thùng gạch lát nền nhãn hiệu FiCO 60cm x 60cm, chưa qua sử dụng. - 01 (một) xe kéo bằng kim loại, có sàn lót bằng ván, xe đã qua sử dụng. Các vật chứng này đã trao trả cho chủ sở hữu nên không xem xét.
- 4 -
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1/. Tuyên bố bị cáo Lý Văn L(tên gọi khác L B Đ) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Lý Văn L (L B Đ) – 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 01/9/2020.
2/. Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 05 (năm) thùng gạch lát nền nhãn hiệu FiCO 60cm x 60cm, chưa qua sử dụng. - 01 (một) xe kéo bằng kim loại, có sàn lót bằng ván, xe đã qua sử dụng. Các vật chứng này đã trao trả cho chủ sở hữu nên không xem xét.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) đôi dép quai kẹp màu đen xám, đã qua sử dụng (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Kiên Lương với Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương ngày 27/10/2020).
3/.Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử miễn xét.
4/. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ.
4/. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/11/2020).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
- 5 -
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Kiên Lương; - Thi Hành án Dân sự H. KL ; - Những người TGTT; - Lưu tập án, Hồ sơ; - Lưu VP./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thủy - 6 - |