vanban.org

Bản án 43/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 23/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ng 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2020. Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ng phải bồi thường cho anh Mai Văn Đ số tiền 3.950.000 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN HUYỆN HẬU LỘC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:43/2020/HS-ST
Ngày 23/7/2020.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đoàn Thị Dung

Bà Ngô Thị Hoài

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chuyên - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2020 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn Ng; sinh năm 1990 tại huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Th; vợ, con: Chưa; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 28/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội xử phạt 40 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 24/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 22/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 12/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù; chưa được xóa án tích.

Nhân thân: Ngày 30/8/2018 bị Công an huyện Hậu Lộc xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Mai Văn Đ, sinh năm 1993. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn 3, xã L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Minh Th, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Trần Văn Đ, sinh năm 1978. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10h ngày 06/5/2020, Nguyễn Văn Ng ở thôn K, xã H, huyện L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI màu đen, biển kiểm soát 36H7-0559 đi từ nhà đến nhà người quen ở xã Liên Lộc chơi. Khi đi qua xưởng làm đá mỹ nghệ nhà anh Mai Văn Đ, sinh năm 1993 ở thôn 3, xã L, huyện L thì nhìn thấy nhà xưởng làm đá của anh Đ khóa cửa ngoài bằng một chiếc khóa Việt Tiệp loại nhỏ, đã cũ, Ng quan sát xung quanh không thấy có ai, nên nảy sinh ý định vào để trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, Ng dùng tay phải giật mạnh chiếc khóa cửa 2 - 3 cái thì khóa bung ra. Ng mở cửa đi vào bên trong nhìn thấy trên sạp gỗ để các máy làm đá mỹ nghệ. Ng lấy chiếc bì màu xanh dùng để đựng rác để ở góc xưởng bỏ toàn bộ tài sản vào trong bì gồm 02 chiếc máy cắt mi ni màu đen nhãn hiệu KYNKO, 02 chiếc máy bốc màu cam nhãn hiệu MAKTEC, 01 máy khoan rút lõi màu xanh, 01 mũi khoan nhãn hiệu DONGCHENG đường kính 08cm, dài 35cm, 01 máy đục màu xanh, 01 máy khoan bắn vít màu trắng nhãn hiệu LACELA, 01 chiếc ba lăng tời xích màu cam, 01 máy điêu khắc màu cam. Sau khi lấy được tài sản, Ng buộc chiếc bì đựng tài sản trộm cắp lên xe môtô rồi điều khiển xe đi về hướng xã Th. Khi đi đến xã Th, Ng đem số tài sản vừa trộm cắp được vào cửa hàng thu mua phế liệu nhà anh Hoàng Minh Th, sinh năm 1991 ở thôn Th, xã Th, huyện L bán được 2.600.000 đồng. Số tiền trên Ngọ đã sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân hết.

Sau khi mua được số tài sản do Ng đem bán, anh Th đã bán 01 máy khoan rút lõi cùng mũi khoan loại DONGCHENG cho một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), số tài sản còn lại anh Th để lại cửa hàng.

Đến khoảng 09h ngày 12/5/2020, sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Đ đi tìm tài sản của mình thì phát hiện các tài sản bị mất trộm đang ở cửa hàng thu mua phế liệu của nhà anh Th, nên anh Đ đã chuộc lại số tài sản bị mất với số tiền là 2.100.000 đồng, đồng thời báo cáo sự việc và giao nộp số tài sản trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L.

Ngày 12/5/2020, nhận thức được hành vi phạm tội của mình, Nguyễn Văn Ng đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Hậu Lộc đầu thú.

Tại bản kết luận số 27/KL-HĐĐGHS ngày 15/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Hậu Lộc kết luận: 02 máy cắt mi ni màu đen nhãn hiệu KYNKO có giá 600.000đồng; 02 máy mài góc nhãn hiệu Maktec MT903 màu cam có giá 2.100.000 đồng; 01 máy khoan rút lõi, màu xanh có giá 1.200.000 đồng; 01 mũi khoan loại Dongcheng đường kính mũi 80mm, dài 35cm có giá 650.000 đồng; 01 máy đục màu xanh có giá 500.000 đồng; 01 máy khoan bắn vít màu trắng loại LACELA có giá 250.000 đồng; ba lăng tời xích có giá 1.500.000 đồng; 01 máy điêu khắc màu cam có giá 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản đề nghị định giá (08 loại tài sản) là 7.200.000 đồng.

Ngày 28/5/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hậu Lộc đã trả lại 02 máy cắt mini màu đen nhãn hiệu KYNKO, 02 máy bốc màu cam nhãn hiệu MAKTEC, 01 máy đục màu xanh, 01 máy khoan bắn vít màu trắng nhãn hiệu LACELA, 01 ba lăng tời xích màu cam, 01 máy điêu khắc màu cam cho anh Mai Văn Đ là chủ sở hữu hợp pháp. Còn 01 chiếc máy khoan rút lõi và 01 mũi khoan loại DONGCHENG anh Hoàng Minh Th đã bán cho một người không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả. Vì vậy, anh Mai Văn Đ yêu cầu Nguyễn Văn Ng phải bồi thường trị giá tài sản theo định giá với số tiền là 1.850.000 đồng và số tiền anh Đ đã trả lại cho anh Th để chuộc lại số tài sản bị mất trộm là 2.100.000 đồng, tổng cộng số tiền anh Đ yêu cầu Nguyễn Văn Ng phải bồi thường là 3.950.000 đồng.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu SUZUKI biển kiểm soát 36H7-0559 mà bị cáo Nguyễn Văn Ng sử dụng làm phương tiện phạm tội. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản thuộc sở hữu của anh Trần Văn Đ cho Ng mượn nhưng không biết Ng sử dụng vào mục đích thực hiện tội phạm. Do đó, Cơ quan điều tra đã trả chiếc xe môtô trên cho anh Trần Văn Đ.

Cáo trạng số 41/CT-VKSHL ngày 19/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật nêu trên và sau khi đánh giá tính chất vụ án, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo từ 36 tháng tù đến 42 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường dân sự: p dụng Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ng phải bồi thường cho anh Mai Văn Đ số tiền là 3.950.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo cải tạo, sớm trở về gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hậu Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Khoảng 10h ngày 06/5/2020, Nguyễn Văn Ng đã lén lút đột nhập vào nhà xưởng làm đá mỹ nghệ của anh Mai Văn Đ ở thôn 3, xã L, huyện L trộm cắp 02 máy cắt mini màu đen nhãn hiệu KYNKO, 02 máy bốc màu cam nhãn hiệu MATEC, 01 máy khoan rút lõi màu xanh, 01 mũi khoan nhãn hiệu DONGCHENG đường kính 80mm, dài 35cm, 01 máy đục màu xanh, 01 máy khoan bắn vít màu trắng nhãn hiệu LACELA, 01 balăng tời xích màu cam, 01 máy điêu khắc màu cam.

Tại bản kết luận số 27/KL-HĐĐGHS ngày 15/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc UBND huyện Hậu Lộc kết luận: Tổng giá trị tài sản là 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Văn Ng đã bị xử phạt 40 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 24/01/2017 chấp hành xong hình phạt tù đến ngày ngày 22/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù; chưa được xóa án tích. Nay lại tiếp tục chiếm đoạt tài sản của người khác. Cáo trạng số 41/CT-VKSHL ngày 19/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được Nhà nước bảo vệ, xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Với động cơ tư lợi muốn hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác, bị cáo lợi dụng sơ hở không có người trông coi nhà xưởng đã chiếm đoạt tài sản, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Do đó phải xử lý nghiêm, có hình phạt nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và giáo dục chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo tốt thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

Bị cáo có nhân thân không tốt, đã bị Tòa án xét xử hai lần, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên khi quyết định hình phạt cần xem xét đối với bị cáo và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp không ổn định, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã trả lại 02 máy cắt mini màu đen nhãn hiệu KYNKO, 02 máy bốc màu cam nhãn hiệu MAKTEC, 01 máy đục màu xanh, 01 máy khoan bắn vít màu trắng nhãn hiệu LACELA, 01 ba lăng tời xích màu cam, 01 máy điêu khắc màu cam cho anh Mai Văn Đạo là chủ sở hữu hợp pháp. Còn 01 chiếc máy khoan rút lõi và 01 mũi khoan loại DONGCHENG anh Hoàng Minh Thảo đã bán cho một người không biết, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hậu Lộc đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng không có kết quả.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản mà bị cáo chiếm đoạt của anh Mai Văn Đ, anh Đ đã bỏ số tiền 2.100.000 đồng để chuộc lại tài sản mà bị cáo bán cho anh Th và 1.850.000 đồng trị giá chiếc máy khoan rút lõi và 01 mũi khoan loại DONGCHENG . Tổng là 3.950.000 đồng, anh Đ yêu cầu bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền trên nên chấp nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Mai Văn Đ.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án và không thuộc trường hợp miễn án phí nên bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Điều 584, 585, 589, 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Khoản 1 Điều 21; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Ng 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2020.

Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ng phải bồi thường cho anh Mai Văn Đ số tiền 3.950.000 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ng chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thi người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ