- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H - A ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| F TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2020/HNGĐ-ST Ngày: 14/9/2020 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Tập và bà Phạm Thị Dung
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 184/2020/TLST-HNGĐ ngày 09/7/2020 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2020/QĐST- HNGĐ ngày 11/8/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2020/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1993 Địa chỉ: Tổ 36c, khu 10, phường Q, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Việt A, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ 4, khu 6, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Bùi Thị H và anh Hoàng Việt A kết hôn tự nguyện với nhau ngày 27/4/2012 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, chị H và anh Việt A về chung sống cùng nhau tại tổ 4, khu 6, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng năm 2014, anh Việt A bỏ nhà đi đâu không ai biết tin tức. Chị H đã tìm kiếm anh Việt A ở nhiều nơi nhưng không có kết quả. Cuối năm 2019, chị H làm đơn gửi Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Việt A mất tích. Ngày 04/6/2020, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, Quảng Ninh đã ra quyết định số 02/2020/QĐST-VDS tuyên bố anh Hoàng Việt A mất tích.Trong quá trình chung sống, chị H và anh Việt A có 01 con chung là Hoàng Gia Nhật M, sinh ngày 07/8/2012. Về tài sản chung, vay nợ chung: Không có tài sản chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của nguyên đơn chị Bùi Thị H: Vợ chồng chung sống được hơn ba tháng hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Việt Anh nợ nần bên ngoài nhiều dẫn đến vỡ nợ. Vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Anh Hoàng Việt A bỏ nhà đi từ tháng 6 năm 2012 khi chị H mang bầu được 04 tháng. Từ thời điểm anh Việt A bỏ đi, chị H không có tin tức gì hay liên lạc được với anh Việt A. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, thời gian sống ly thân quá lâu không có tình cảm, anh Việt A không quan tâm hay có trách nhiệm với gia đình. Chị H đề nghị được ly hôn với anh Việt A. Cùng với yêu cầu xin ly hôn, chị H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Hoàng Gia Nhật M, sinh ngày 07/8/2012. Chị H xác định có đủ điều kiện nuôi dưỡng con chung chu đáo, không yêu cầu anh Việt A phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Hoàng Việt A tuy nhiên anh Hoàng Việt A vẫn vắng mặt không có lý do.
Tại biên bản xác minh ngày 11/8/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - ông Kiều Hồng Q (Phó trưởng khu 6, phường T - Địa chỉ: phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh cung cấp sự việc: Chị Bùi Thị H và anh Hoàng Việt A sinh sống tại địa chỉ tổ 4, khu 6, phường T, thành phố Uông Bí, Quảng Ninh. Quá trình vợ chồng chung sống sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2014, chị H đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ tại phường Q. Anh Hoàng Việt A cũng không còn sinh sống tại địa chỉ tổ 4, khu 6, phường T. Địa phương cũng không biết anh Hoàng Việt A hiện nay sinh sống và làm việc tại đâu. Trong quá trình chung sống, chị H và anh Hoàng Việt A có 01 con chung là Hoàng Gia Nhật M, sinh năm 2012, hiện cháu M đang ở với mẹ. Ông Q đề nghị Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn và con chung của chị H và anh Hoàng Việt A theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và người tham gia tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thu thập chứng cứ xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của chị Bùi Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Bùi Thị H khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với anh Hoàng Việt A và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn anh Hoàng Việt A có nơi ĐKHKTT tại tổ 4, khu 5, phường T, thành phố Uông Bí, nơi cư trú cuối cùng tại tổ 4, khu 6, phường T, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa hôm nay, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, còn anh Việt A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh Việt A là phù hợp với điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Hoàng Việt A từ năm 2012 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, anh Việt A đi khỏi địa phương đã lâu, chị H và anh Việt A đã sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay và vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, ngày 04/6/2020 Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, Quảng Ninh đã ra quyết định số 02/2020/QĐST-VDS tuyên bố anh Hoàng Việt A mất tích. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh Việt A đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H và anh Việt A có 01 con chung là cháu Hoàng Gia Nhật M, sinh ngày 07/8/2012. Xét nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị Bùi Thị H thì thấy: Kể từ khi anh Việt A bỏ đi từ năm 2014 cho đến nay thì chị H vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cháu Hoàng Gia Nhật M - là con chung của chị H, anh Việt A có nguyện vọng được ở với mẹ. Do vậy, nên chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H, giao con chung cho chị H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Hoàng Việt A vắng mặt và chị H không yêu cầu nên anh Hoàng Việt A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Đương sự trình bày không có tài chung, không vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; khoản 1, 3 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị H.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H được ly hôn anh Hoàng Việt A.
2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Gia Nhật M, sinh ngày 07/8/2012 cho chị Bùi Thị H trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 9/2020 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).
Anh Hoàng Việt A không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Sau ly hôn, đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời đương sự không trực tiếp nuôi dưỡng con chung không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Sau khi ly hôn, các đương sự có quyền đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nếu có yêu cầu, theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị H đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003443 ngày 08/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn chị Bùi Thị H, bị đơn anh Hoàng Việt A báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh - VKSND TP Uông Bí. - Chi cục THADS TP Uông Bí. - UBND phường T (Nơi ĐKKH) - Các đương sự. - Lưu án văn + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Phúc Định |