vanban.org

Bản án 43/2020/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc T đối với bà Ngô Trần Diễm M.

Giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày: 21/09/2016 cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Bên không nuôi con vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc T đối với bà Ngô Trần Diễm M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HẢI CHÂU
TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:43/2020/HNGĐ- ST
Ngày 30 - 09 – 2020
“Thay đổi người trực tiếp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU- THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Ba

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Huỳnh Trung Dũng

- Ông Hoàng Minh Trinh

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Đình Vui

Ngày 30 tháng 09 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiến hành công khai xét xử vụ án dân sự thụ lý số 25/2020/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 nàm 2020 về việc “Thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐST – DS ngày 23 tháng 06 năm 2020 giữa:

* Nguyên đơn: Ông Lê Quốc T – Sinh năm: 1993 - Trú tại: K233/H02/14 đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt

* Bị đơn: Bà Ngô Trần Diễm M – Sinh năm: 1995 – Địa chỉ: Số 90/1 đường H, phường N, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/02/2020, tại phiên hòa giải và tại phiên tòa ông Lê Quốc T trình bày:

Ông Lê Quốc T và Ngô Trần Diễm M thỏa thuận thuận tình ly hôn theo quyết định số 202/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22/07/2019 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, trong quyết định về quan hệ con chung đã giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày 21/09/2016 cho bà Ngô Trần Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

Bà M nuôi con được vài tháng thì giao con chung lại cho ông T nuôi dưỡng, từ tháng 9/2019 cho đến nay cháu K vẫn ở với ông. Do vậy ông Đề nghị Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con giao cháu Lê Duy K – Sinh ngày 21/09/2016 cho ông nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, ông không yêu cầu bà M phải cấp dưỡng nuôi con.

Trong đơn khởi kiện ngày 4/2/2020 ông Lê Quốc T không yêu cầu bà M phải cấp dưỡng nhưng tại phiên hòa giải ngày 04/05/2020 ông T đề nghị Tòa án buộc bà Ngô Trần Diễm M cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng, thời gian thực hiện kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ngày 09/7/2000 ông Lê Quốc T có đơn xin rút yêu cầu buộc bà Ngô Trần Diễm M phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng.

Tại bản khai và tại phiên hòa giải bị đơn bà Ngô Trần Diễm M trình bày:

Về phía bà Ngô Trần Diễm M cũng thừa nhận bà và ông T được Tòa án nhân dân quận Hải Châu công nhận thuận tình ly hôn theo quyết định số 202/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22/07/2019, trong quyết định về quan hệ con chung đã giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày 21/09/2016 cho bà Ngô Trần Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

Bà nuôi con được vài tháng, sau đó do điều kiện làm ăn khó khăn và chỗ ở không ổn định nên bà giao con chung lại cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến này.

Nay ông T có đơn đề nghị Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con thì bà thống nhất giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày 21/09/2016 cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. Về cấp dưỡng nuôi con ông T yêu cầu bà cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng thì bà đang khó khăn về công việc thu nhập không ổn định nên bà chỉ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp giấy triệu tập, và quyết định hoãn phiên tòa cho bà Ngô Trần Diễm M, nhưng tại phiên tòa lần thứ hai bà My vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[I] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo khoản 3 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Ngô Trần Diễm M có chỗ ở tại địa chỉ số 90 đường H, phường N, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Căn cứ khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Ngô Trần Diễm M đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn các Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về nội dung tranh chấp: Ông Lê Quốc T yêu cầu Tòa án giải quyết giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày: 21/09/2016 cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên. HĐXX thấy theo quyết định số 202/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22/07/2019 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu về quan hệ con chung đã quyết định giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày 21/09/2016 cho bà Ngô Trần Diễm M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, nhưng trên thực tế con chung đã sống cùng với ông T từ tháng 9/2019 cho đến nay.

Về phía bà Ngô Trần Diễm M dù vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại phiên hòa giải và bản trình bày cũng thừa nhận hiện nay con chung Lê Duy K đang sinh sống cùng với ông T và bà M cũng thống nhất giao cháu K cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

HĐXX thấy hiện nay cháu K đang ở ổn định với ông T, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu K và không làm xáo trộn cuộc sống của con chung, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con của ông Lê Quốc T, giao cháu Lê Duy K – Sinh ngày: 21/09/2016 cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên là có cơ sở theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Trong đơn khởi kiện ngày 4/2/2020 ông Lê Quốc T không yêu cầu cấp dưỡng nhưng tại phiên hòa giải ngày 04/05/2020 ông T đề nghị Tòa án buộc bà Ngô Trần Diễm M cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng, thời gian thực hiện kể từ khi án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà M không thống nhất với mức cấp dưỡng là 3.000.000đ/tháng của ông T yêu cầu mà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/7/2000 ông Lê Quốc T có đơn xin rút yêu cầu buộc bà Ngô Trần Diễm M phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng, Nên HĐXX sẽ đình chỉ đối với yêu cầu buộc bà M cấp dưỡng nuôi con của ông T.

Về án phí: Nguyên đơn ông Lê Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình

- Áp dụng khoản 3 Điều 28, Điều 227, Điều 235 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quốc T đối với bà Ngô Trần Diễm M.

Xử:

Giao con chung tên Lê Duy K – Sinh ngày: 21/09/2016 cho ông Lê Quốc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên.

Bên không nuôi con vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu của ông Lê Quốc T về việc buộc bà Ngô Trần Diễm M phải cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000đ/tháng.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Là 300.000đ ông Lê Quốc T phải chịu, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0008873 ngày 19/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu- TP Đà Nẵng.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được hoặc niêm yết trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ