- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thúy H
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2020/DS-ST Ngày: 19-3-2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Linh Chi
2. Ông Đỗ Hữu Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thuận – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Liên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 349/2019/TLST-DS ngày 19 tháng 7 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272/2020/QĐST-DS ngày 12 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 650/2020/QĐST-DS ngày 03 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Hà Thúy H, sinh năm 1959
Địa chỉ: Số A Tầng 3 Lô A Chung cư B, Phường C, Quận D, Thành phố E
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trần Minh T, sinh năm 1986
Địa chỉ: Số G đường H, phường I, Quận K, Thành phố E
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong Đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 7 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Hà Thúy H trình bày:
Nguyên đơn có cho bị đơn là ông Nguyễn Trần Minh T vay 200.000.000 đồng theo Văn bản ngày 09 tháng 01 năm 2018; nhưng từ ngày vay tiền đến nay bị đơn không trả một đồng nào. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả 200.000.000 đồng nợ gốc và 25.000.000 đồng nợ lãi theo lãi suất 1%/tháng.
- Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án,... Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là ông Nguyễn Trần Minh T cư trú tại Số G đường H, phường I, Quận K, Thành phố E. Theo Kết quả xác minh ngày 05 tháng 9 năm 2019 của Công an phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị đơn có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên, hiện không thực tế cư trú tại địa phương, đi đâu không rõ. Xét, bị đơn thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Luật Cư trú nên địa chỉ Số G đường H, phường I, Quận K, Thành phố E được xác định là nơi cư trú cuối cùng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. [2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Theo quy định tại khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa án tham gia tố tụng nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc. [4] Về nội dung vụ án: Theo Văn bản ngày 09 tháng 01 năm 2018, bị đơn có vay của nguyên đơn 200.000.000 đồng, lãi suất trả hàng tháng 3%, thời hạn 06 tháng sẽ hoàn trả lại cho nguyên đơn; Ngày 09 tháng 01 năm 2018, bị đơn đã nhận 200.000.000 đồng. [5] Theo Kết luận giám định số 4911/C09B ngày 20 tháng 12 năm 2019 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thì chữ ký đứng tên Nguyễn Trần Minh T và chữ viết họ tên “Nguyễn Trần Minh T” dưới chữ ký trên tài liệu nội dung vay tiền 200.000.000 đồng có các chữ bắt đầu và kết thúc “Cộng hòa -XH- CN VNam… Tôi đã nhận 200.000.000 triệu”, ngày 09 tháng 01 năm 2018 (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Trần Minh T trên các tài liệu mẫu so sánh nêu tại mục II.2 là do cùng một người ký và viết ra.
Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ trả 200.000.000 đồng nợ gốc phù hợp với quy định tại Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
Về tiền lãi, theo Văn bản ngày 09 tháng 01 năm 2018, hai bên thỏa thuận lãi suất trả hàng tháng 3% vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Xét, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi theo lãi suất 1%/tháng tương đương 12%/năm phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
Tiền lãi bị đơn phải trả cho nguyên đơn từ ngày 09 tháng 01 năm 2018 đến ngày 19 tháng 3 năm 2020 là 200.000.000 đồng x 1%/tháng x 26 tháng 10 ngày = 52.666.667 đồng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.633.333 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thúy H
Buộc ông Nguyễn Trần Minh T có nghĩa vụ trả cho bà Hà Thúy H 200.000.000 đồng nợ gốc theo Văn bản ngày 09 tháng 01 năm 2018 và 52.666.667 đồng nợ lãi từ ngày 09 tháng 01 năm 2018 đến ngày 19 tháng 3 năm 2020.
2. Về án phí: Bà Hà Thúy H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho bà Hà Thúy H 5.625.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số AA/2018/0007842 ngày 17 tháng 7 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Nguyễn Trần Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 12.633.333 đồng. Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. 3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Minh Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thúy Minh |