vanban.org

Bản án 43/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 06/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt Nguyễn Văn Th 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2019, được trừ đi số ngày đã bị tạm giữ 28/4/2019 đến ngày 04/5/2019 vào thời gian thụ hình. [2]. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th phạm tội trộm cắp tài sản khoản 1 Điều 173 BLHS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠNG GIANG
TỈNH BẮC GIANG
Án số: 43/2019/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 06/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Ngữ

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn H1 Cường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lạng Giang.

- Đại diện VKSND Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Mạnh

- Kiểm sát viên.

Ngày 06/6/2019 , Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2019/HSST ngày 21/5/2019 đối với bị cáo: Nguyễn Văn Th, sinh năm 1970. Tên gọi khác: Không có; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã MT, huyện LG, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 7/10; Con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị P (đều đã chết); Gia đình có 02 anh em, bản thân là thứ hai; Có vợ là Vũ Thị H và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2011.

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Quyết định số 17 ngày 17/8/2017, Công an phường H1 Văn Thụ, thành phố Bắc Giang xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản. Th chưa chấp hành tiền phạt.

- Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 28/4/2019 đến ngày 04/5/2019 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Ngày 19/5/2019 bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Viện kiểm sát. (có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Chị H1 Thị H, sinh năm 1991; trú tại Thôn C, xã MT, huyện LG, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Văn Th bị VKSND huyện Lạng Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 28/4/2019, Th đi bộ từ nhà đến mộ của ông nội Th đặt ở trong vườn nhà anh Bùi Văn T, sinh năm 1989 ở cùng thôn để thu dọn các đồ hàng mã trước đó gia đình Th làm lễ tạ mộ. Sau khi dọn đồ xong, Th đi về qua cổng nhà anh T thấy gia đình anh T đã tắt điện đi ngủ, phát hiện thấy ở sân có dựng 02 xe mô tô gồm một xe Dream và 01 xe Yamaha Classicos, Th nảy ý định trộm cắp xe đem bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Th đi đến gần thấy xe mô tô, biển kiểm soát 22B1- 075.83 nhãn hiệu YAMAHA, loại Classico của chị H1 Thị H, sinh năm 1991 vợ anh T có chìa khoá điện cắm ở ổ khoá xe. Th dắt ra ngoài qua cổng rồi bật khoá điện đề nhưng không nổ được máy. Th dắt xe đi bộ tìm nơi tiêu thụ, đi đến đoạn đường liên thôn gần sân bóng đá của thôn C, xã Mỹ Thái thì bị anh Bùi Văn H1, sinh năm 1993 là anh họ của anh T ở cùng thôn phát hiện và báo Công an xã Mỹ Thái đến lập biên bản, thu giữ vật chứng.

Ngày 29/4/2019 chị H1 Thị H có đơn trình báo Công an huyện Lạng Giang đề nghị xử lý hành vi trộm cắp của Th.

Tại Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐ ngày 02/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Lạng Giang định giá 01 xe mô tô biển kiểm soát 22B1- 075.83 trị giá 5.000.000đ.

Kết thúc phần tranh luận, sau khi đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKSND huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội trộm cắp tài sản, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 6 - 9 tháng tù. Ngoài ra đại diện VKS Cn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn Th không có ý kiến gì tranh luận, đề nghị Tòa án cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của VKS, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

.Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

.Nội dung vụ án:

Hồi 23 giờ 15 phút ngày 28/4/2019, Công an xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang cùng quần chúng nhân dân bắt quả tang Nguyễn Văn Th có hành vi trộm 01 xe mô tô, biển kiểm soát 22B1- 075.83 nhãn hiệu YAMAHA Classico trị giá 5.000.000đ của chị H1 Thị H, sinh năm 1991 ở thôn C, xã Mỹ Thái, huyện Lạng Giang.

Tại phiên toà hôm nay bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan cũng như vật chứng đã thu hồi được, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của chị H mà Cn gây mất trật tự trị an ở địa pH.

.Xét về tinh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

- Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ những tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, không có công ăn việc làm và nghiện rượu. Do đó cần áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và chấp hành pháp luật.

Đây là vụ án có tính chất, động cơ vụ lợi, nên ngoài hình phạt chính lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 BLHS phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

.Về trách nhiệm dân sự: Ngày 04/5/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô 22B1- 075.83 cho chị H, chị H đã nhận lại xe không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét.

.Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar B249 màu đen là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Vỉ các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điểu 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; các Điều 331, 333 BLTTHS.

- Xử phạt Nguyễn Văn Th 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/5/2019, được trừ đi số ngày đã bị tạm giữ 28/4/2019 đến ngày 04/5/2019 vào thời gian thụ hình.

[2]. Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar B249 màu đen nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo:

Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kế từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Án xử sơ thẩm công khai.

Cỡ chữ