vanban.org

Bản án 43/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 07/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 31/5/2019 Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị H 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BA ĐỒN
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HS-ST
Ngày: 07 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tưởng Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Hoà và ông Hoàng Thanh Diện

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thục Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 15 tháng 9 năm 1980 tại xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn L, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn K và bà Trần Thị D (bố, mẹ đều đã chết); có chồng là Trần Văn N (đã bỏ đi khỏi địa phương) và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2019, chuyển sang tạm giam từ ngày 06/6/2019 cho đến nay. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 30/5/2019, Nguyễn Thị H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xám, biển kiểm soát 73K1 – 146.35 lưu thông trên đường Hùng Vương, thuộc phường B, thị xã B, hướng từ sân vận động Ba Đồn đến chợ Ba Đồn. Khi đi đến trước khu vực cổng bến xe Ba Đồn thì có người đàn ông không rõ lai lịch ra hiệu dừng xe lại. Khi H dừng xe thì người đàn ông nói trên nhờ H đưa 01 gói nhỏ, bọc bằng giấy nilon màu hồng cho một nam thanh niên đang đứng đợi tại trục đường hẻm sát cạnh Trung tâm văn hoá thị xã B và nói sẽ cho H 20.000 đồng sau khi H giao xong quay lại. Lúc này, H thấy thái độ của người đàn ông nói trên hơi khác và có sự lén lút, sợ người khác nhìn thấy. Đồng thời, thấy gói đồ được nhờ đưa đi có kích thước rất nhỏ, gói bằng giấy nilon, có thể cầm gọn trong lòng bàn tay nên H nghi ngờ bên trong là chất ma tuý. Tuy nhiên, vì nghĩ gói nilon nhỏ, không có ai nhìn thấy và sau khi giao xong sẽ được nhận số tiền 20.000 đồng nên H đồng ý. Sau đó, H cầm gói nilon nói trên trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe đi đến địa điểm đã được chỉ dẫn. Khi đi đến khu vực đoạn đường hẻm sát cạnh Trung tâm văn hoá thị xã B và tìm người để giao gói đồ thì bị công an thị xã B kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang, thu giữ: 01 gói giấy nilon màu hồng, bên trong có gói giấy màu trắng - vàng - xanh, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xám, biển kiểm soát 73K1

- 146.35; tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 1.797.000 đồng; 01 điện thoại hiệu Nokia loại 130.

Tại bản Kết luận giám định số 559/GĐ-PC 09 ngày 04 tháng 6 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, kết luận: Mẫu ký hiệu gửi đi giám định thu giữ từ Nguyễn Thị H là chất ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,342g.

Quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã thu giữ và xác định: số tiền 1.797.000 đồng là tiền do H lao động mà có và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 130, số seri: 357333085530701, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của Nguyễn Thị H, không liên quan đến đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cơ quan CSĐT Công an thị xã B đã tiến hành trả lại tiền và điện thoại nói trên cho chủ sở hữu;

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xám, biển kiểm soát 73K1 – 146.35 hiện thuộc sở hữu hợp pháp của Nguyễn Thị H. H đã sử dụng xe mô tô nói trên để thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử lý theo quy định pháp luật.

Liên quan trong vụ án có người đàn ông nhờ H giao mà tuý và nam thanh niên đợi H đến giao ma tuý nhưng không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên chưa có cơ sở để giải quyết. Cơ quan CSĐT Công an thị B xã tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSNDTXBĐ ngày 06 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã B, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư của Phòng KTHS Công an tỉnh Quảng Bình, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,221g chất ma tuý, loại Heroine, sau giám định, kèm theo vỏ bao gói; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xám, biển kiểm soát 73K1 - 146.35 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị H.

Bị cáo Nguyễn Thị H nhất trí tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày là đã ân hận và nhận thức được sự sai trái trong hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thị xã B, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, việc thu giữ các vật chứng của vụ án và các hành vi, quyết định tố tụng khác của Điều tra viên đều được thực hiện đúng pháp luật. Việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng thẩm quyền, tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định.

Về hành vi phạm tội:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bản kết luận giám định cũng như nội dụng bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15giờ 30 phút, ngày 30/5/2019, bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi vận chuyển trái phép 0,342g chất ma tuý, loại Heroine, nằm trong danh mục các chất ma tuý, số thứ tự 09, danh mục I, nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận: bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khoẻ, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được những quy định của Nhà nước đối với hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Bị cáo tuy có thái độ nghi ngờ đối với việc người đàn ông lạ nhờ vận chuyển gói đồ và cho rằng đó là ma tuý. Tuy nhiên chỉ vì hám một chút lợi nhỏ trước mắt nên bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội để đạt được mục đích mà không quan tâm đến hậu quả sau này. Hành vi của bị cáo là tự gây nguy hiểm cho bản thân, tiếp tay cho tội phạm về ma tuý, gây nguy hiểm cho gia đình và xã hội; đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma tuý; gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của công dân và gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Trong tình hình tội phạm về ma tuý ngày càng gia tăng và gây nhiều hậu quả xấu đến cuộc sống của người dân, xét thấy cần phải áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự để xử phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm đảm bảo răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo đã tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo với cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà. Vì vậy, cần căn cứ vào điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có điều kiện sửa chữa, tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về vật chứng vụ án:

Xét thấy 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình, số 559/GĐ-PC09, bên ngoài ghi “mẫu ký hiệu A”, bên trong chứa 0,221g chất ma tuý, loại Heroine sau giám định, kèm theo vỏ bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ; đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen - xám, biển kiểm soát 73K1 – 146.35, đã qua sử dụng, thuộc sở hữu của bị cáo H, là phương tiện mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 31/5/2019

Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị H 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm theo Quyết định tạm giam bị cáo tại phiên toà để đảm bảo công tác thi hành án.

3. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư đã được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô kèm Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị H (Các vật chứng có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã B và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B ngày 10/9/2019).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ