- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận việc rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phan Thanh L và Phan Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/HS-PT Ngày: 16 – 5 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Các Thẩm phán:
Ông Hồ Văn Luông
Ông Nguyễn Hồng Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Võ Văn Tuấn Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2019/TLPT-HS, ngày 04 tháng 3 năm 2019 đối với các bị cáo Phan Thanh L và Phan Văn Đ do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang.
Các bị cáo có kháng cáo:
1/ PHAN THANH L, sinh năm 1976 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Số 5, đường T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Tin Lành (Khai tại phiên tòa); quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ch và bà Lê Thị T; có vợ Phan Kim Th và một người con sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/9/2018 đến ngày 20/9/2018 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ PHAN VĂN Đ, sinh năm 1986 tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn T, huyện A, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 07/12 (Khai tại phiên tòa); dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn V và bà Lê Thị N; có vợ Trần Thị Kim L (đã ly hôn) và có một người con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/9/2018 đến ngày 17/9/2018 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, sau đó bị bắt tạm giam từ ngày 16/10/2018 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 14/9/2018 lực lượng Công an huyện VT phối hợp với Công an thị trấn N, huyện VT tuần tra giao thông trên địa bàn thị trấn N thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có một chiếc xe ô tô 07 chỗ ngồi, nhãn hiệu Toyota, loại Innova – G, màu vàng ghi, biển số 68H-5239, do Phan Văn Đ điều khiển, đi cùng xe có Phan Thanh L đang vận chuyển thuốc lá nhập lậu lưu thông trên đường. Kiểm tra trên xe, lực lượng Công an phát hiện và thu giữ 4.000 gói thuốc là ngoại, nhãn hiệu HERO; 1.000 gói thuốc lá ngoại, nhãn hiệu JET; 5.000 gói thuốc lá ngoại, nhãn hiệu SCOTT. Tất cả đều không rõ nguồn gốc, không có hóa đơn chứng từ nên Công an huyện VT tạm giữ người cùng tang vật.
Quá trình điều tra Phan Thanh L khai nhận: Trong khoảng thời gian từ ngày 12/9/2018 đến ngày 13/9/2018 thì Phan Thanh L cùng với một tài xế tên Bằng (không rõ họ tên, địa chỉ) 04 lần vận chuyển thuốc lá nhập lậu cho những người mua tại địa bàn thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang; huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang; tỉnh Vĩnh Long; tỉnh Bạc Liêu.
Vào ngày 14/9/2018, do Bằng bị bệnh nên L tìm tài xế khác là Phan Văn Đ và thỏa thuận trả tiền công là 500.000 đồng. L nhờ Được thuê xe của anh Đỗ Sĩ Phu với giá thuê là 700.000 đồng/ngày.
Đến 14 giờ ngày 14/9/2018, L kêu được đến nhà anh P để lấy xe rồi đi rước Kim Anh ở đường Lâm Quang Kỳ. Sau đó, rước L ở cầu vượt Xuyên Á, rồi cả 3 người cùng ngồi trên xe đi về hướng huyện T, tỉnh An Giang. Trên đường đi Kim Anh nói với L khi lên đến T thì gọi cho Tế Điên (Tới Điên) lấy hàng, khi nào lên hàng thì thay đổi biển số. Đi được một đoạn thì Kim Anh kêu Đ dừng xe cho L và Kim Anh dán băng keo đen lên kính của xe nhằm tránh sự phát hiện. Khi dừng xe thì Được có hỏi Kim Anh: Sao phải dán băng keo đen. Kim Anh trả lời: tại vì dán cho Công an không thấy, sợ bị phạt vì chất hàng nhiều, dán băng keo xong thì Được dọn dẹp vứt giấy vụn xuống đất, rồi tiếp tục điều khiển xe 07-08km thì dừng lại chở thêm một người đàn ông là bạn của Kim Anh. Chạy xe khoảng 10 phút thì Kim Anh và người đàn ông xuống xe, còn L và Được tiếp tục chạy xe.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày thì tới chợ T, bị cáo L điện thoại cho Tế Điên theo số 01652.677.448 để nhận hàng, Tế Điên kêu L đợi đến tối sẽ có người dẫn đường đi lấy hàng.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày thì Tế Điên điện thoại cho L chạy xe đến kho thuốc lá, Đ và L chạy xe đến kho thì được người khác đưa thuốc lá lên xe. Khoảng 40 phút thì hàng hóa đã bọc nilon chất lên phía sau xe và phủ kín bằng miếng xốp màu đen che ngang sau băng ghế tài xế; sau khi xếp hàng (thuốc lá) xong và dán sẵn hai biển số giả (64A – 237.94, 64A – 397.94) đè lên biển số 68H – 5239 thì L gọi Đ vào lấy xe chạy đi. Lúc lấy xe, do thấy nhiều hàng nên Được hỏi L: Chở đồ gì mà nhiều vậy, L trả lời: là đồ si đa và nói yên tâm đi, có gì thì anh chịu mày lo gì, đi khoảng 15-20km thì L kêu Đ dừng xe, còn L xuống thay đổi biển số giả sang biển số ban đầu nhằm tránh bị phát hiện. Sau đó, Đ tiếp tục điều khiển xe đến địa phận huyện T thì dừng lại để L và Đ vào ăn uống rồi lên xe chạy tiếp, trên đường về Đ than đường xa nên L hứa hẹn giao hàng xong nếu chủ hàng cho thêm tiền thì sẽ cho Đ thêm. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, xe do Đ điều khiển cùng với L đến địa bàn ấp 1, thị trấn N, huyện VT thì bị kiểm tra, bắt quả tang, bị tạm giữ người, xe và hàng hóa trên xe.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2019/HS-ST ngày 23 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang quyết định:
1. Căn cứ vào: Điểm b khoản 3, 4 Điều 191, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58, điểm m khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 293, 298, 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Phan Thanh L
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thanh L 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14/9/2018. Tiếp tục tam giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng)
2. Căn cứ vào: Điểm b khoản 3, 4 Điều 191, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58, điểm m khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 293, 298, 329, 331, 332 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự đối với bị cáo Phan Văn Đ
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Đ 05 (Năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 16/10/2018. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/9/2018 đến ngày 17/9/2018. Tiếp tục tam giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/01/2019, các bị cáo Phan Thanh L, Phan Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 11/02/2019, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang có quyết định kháng nghị phúc thẩm số 39/QĐ-VKS-HVT đề nghị không áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và áp dụng khoản 4 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt bổ sung bị cáo Phan Văn Đ số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xin rút yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà phát biểu quan điểm: Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Phan Thanh L, Phan Văn Đ kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT có quyết định kháng nghị. Xét thấy, tại phiên tòa các bị cáo xin rút kháng cáo, xét đây là sự tự nguyện của các bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát về việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết khắc phục hậu quả cho bị cáo Được là không đúng, đề nghị xem xét không áp dụng. Đối với số tiền 10.000.000 đồng đề nghị trả lại cho bị cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Được. Về kháng nghị đề nghị cấm bị cáo hành nghề lái xe trong một thời gian nhất định, Viện kiểm sát xin rút lại phần kháng nghị này. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điều 357, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận việc rút kháng cáo của các bị cáo Phan Thanh L, Phan Văn Đ, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Thanh L. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Phan Thanh L, Phan Văn Đ có đơn kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT có kháng nghị, xét đơn kháng cáo của các bị cáo và Quyết định kháng nghị là phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên được chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Phan Thanh L và Phan Văn Đ xin rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xét việc rút kháng cáo là sự tự nguyện của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, về tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng cho bị cáo Được, Hội đồng xét xử xét thấy, khách thể của tội Vận chuyển hàng cấm là xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về kinh tế của nhà nước và không bắt buộc có hậu quả xảy ra. Do đó, không thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ khắc phục hậu quả đối với bị cáo. Xét thấy hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, bị cáo đã ly hôn và phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, bị cáo đã phải chấp hành hình phạt tù nếu buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt bổ sung sẽ gây thêm khó khăn cho bị cáo. Do vậy, cần xem xét trả lại số tiền 10.000.000 đồng mà bị cáo đã nộp, cho nên kháng nghị của Viện kiểm sát có cơ sở chấp nhận.
Đối với kháng cáo yêu cầu cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang đã rút kháng nghị phần này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ những phân tích trên, nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa là có cơ sở nên chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Không ai phải chịu
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điều 357, Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận việc rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Phan Thanh L và Phan Văn Đ. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phan Thanh L.
Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện VT, tỉnh Hậu Giang đối với bị cáo Phan Văn Đ. Sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58, điểm m khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Đ 05 (Năm) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 16/10/2018. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/9/2018 đến ngày 17/9/2018.
Trả lại cho bị cáo Phan Văn Đ 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) số tiền đã nộp theo biên lai số 0006483 ngày 21/01/2019 tại Chi cục thi hành dân sự huyện VT, tỉnh Hậu Giang.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1b); - Công an xã nơi bị cáo cư trú (1b); - Công an H. VT (1b); - VKSND tỉnh Hậu Giang (3b); - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang (1b); - PV27 – Công an tỉnh Hậu Giang (1b); - PC81 – Công an tỉnh Hậu Giang (1b) - VKSND H. VT (1b); - Chi cục THADS H. VT (1b); - TAND H. VT (3b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b); - Lưu THS (3b). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hồ Văn Luông - Nguyễn Hồng Thanh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hồ Tâm Tú THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Tâm Tú |