vanban.org

Bản án 43/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị D.

Xử : Cho chị Nguyễ n Thị D được ly hôn anh Nguyễn Ngọ c T. Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọ c H , sinh ngày 08/6/2003 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngà y 05/5/2010 cho chị D tiếp tụ c nuôi dưỡ ng . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị D xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HNGĐ-ST
Ngày 27/9/2019
Về việc Ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhàn

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm và ông Bù i Quang Hợ i

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng – Thẩm phán

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 44/2017/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2017 về việc “Ly hôn và tranh chấp việc nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2019 giữa:

Nguyên đơn: Chị Nguyễ n Thị D, sinh năm 1976. Có mặt;

Địa chỉ: Xóm Trúc, thôn Dương Sơn, xã T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh;

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọ c T, sinh năm 1976. Vắng mặt;

Địa chỉ: Số 110A, tổ 3, phườ ng V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2017 , bản tự khai và lời khai tại Tòa án, chị Nguyễ n Thị D trình bày: Chị D kết hôn với anh Nguyễn Ngọ c T vào ngày 24/9/2002. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn chị D về chung số ng vớ i anh T ngay. Vợ chồ ng chung số ng cù ng gia đì nh anh T tại số 110, tổ 2 phườ ng V (Nay là số 110A, tổ 3, phườ ng V). Cuộ c số ng chung vợ chồ ng hò a thuậ n hạ nh phú c đế n năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn . Nguyên nhân anh T có quan hệ ngoạ i tì nh vớ i ngườ i phụ nữ khá c và không chăm lo cuộc sống vợ chồng . Thờ i gian nay chị D sinh con thứ hai nên chuyể n về quê tại xóm Trúc, thôn Dương Sơn, xã T, thị xã T , tỉnh Bắc Ni nh sinh số ng cù ng bố mẹ . Sau đó anh T cũng chuyển về đó sinh sống cùng mẹ con chị D nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn đến 2011 anh T đã quay lại nhà bố mẹ đẻ sinh số ng. Vợ chồng ly thân từ đó. Chị D nhận thấy không thể tiếp tục chung sống cùng anh T, chị không còn tình cảm với anh T. Chị xin được ly hôn anh T.

Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọc H , sinh ngày 08/6/2003 và Nguyễ n Ngọ c D , sinh ngà y 05/5/2010. Hiện chị D đang trực tiếp nuôi dưỡ ng cả hai con. Chị D đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡ ng cả hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản, công nợ : Không yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t.

Anh T từ chố i khai bá o và cũ ng không có văn bả n ghi ý kiế n gử i Tò a á n.

Tại phiên tòa hôm nay: Chị D giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày tại Tòa án. Chị D xin được ly hôn anh T. Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 08/6/2003 và Nguyễn Ngọc D , sinh ngà y 05/5/2010. Hiện chị D đang trực tiếp nuôi dưỡ ng cả hai con . Chị D đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡ ng cả hai con chung , không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung . Về tà i sả n , công nợ : Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh T vắng mặt tại phiên tòa.

Đại diện VKSND thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Cả Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đều chấp hành đúng những qui định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng bị đơn không chấp hành đúng qui định, cố tình vắng mặt trong các phiên họp và phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị D về việc xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc T. Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọ c H, sinh ngày 08/6/2003 và Nguyễ n Ngọ c D , sinh ngà y 05/5/2010. Hiện chị D đang trực tiếp nuôi dưỡ ng cả hai con. Giao con chung cho chị Dinh tiếp tục nuôi dưỡ ng.Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con chị D không yêu cầ u nên không xem xé t giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2019 phiên tòa được mở vào ngày 17/9/2019. Tại phiên tòa này anh T vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử tiếp theo là ngày 27/9/2019. Tòa án đã tiến hành tống đạt quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ đến anh T nhưng tại phiên tòa hôm nay anh T vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung: Chị Nguyễ n Thị D và anh Nguyễn Ngọc T kết hôn với nhau ngày 24/9/2002, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, như vậy là hôn nhân hợp pháp.

Cuộc sống chung vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do chị D nghi ngờ anh T chung số ng như vợ chồ ng vớ i ng ười phụ nữ khác . Mặ t khá c anh T không chăm lo vợ con , không phát triển kinh tế gia đình . Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài đến năm 2011 vợ chồng đã sống ly thân. Chị D và anh T đều đã cố gắng để vợ chồng quay lại chung sống đoà n tụ nhưng cuộ c số ng chung không hạ nh phú c , vợ chồng không còn tình cảm, thờ i gian ly thân đã lâu . Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D với anh T.

Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Ngọ c H , sinh ngày 08/6/2003 và Nguyễ n Ngọ c D , sinh ngà y 05/5/2010. Hiện chị D đang trực tiếp nuôi dưỡ ng cả hai con. Chị D đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡ ng cả hai con chung , không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y , từ khi vợ chồ ng ly thân chị D vẫ n trự c tiế p nuôi dương hai con chung , cuộ c số ng củ a hai con đượ c đả m bả o, phát triển tốt và nguyện vọng của cháu H và cháu D cũng muốn tiếp tục chung số ng cù ng chị D nên cầ n giao cả hai con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con chị D không yêu cầ u nên không xem xé t giả i quyế t. Vấn đề tài sản, công nợ không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết

Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 146, Điều 147, Điều 204, Điều 220, Điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễ n Thị D.

Xử : Cho chị Nguyễ n Thị D được ly hôn anh Nguyễn Ngọ c T.

Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọ c H , sinh ngày 08/6/2003 và Nguyễn Ngọc D, sinh ngà y 05/5/2010 cho chị D tiếp tụ c nuôi dưỡ ng .

Vấ n đề cấ p dưỡ ng nuôi con , tài sản chung , công nợ không yêu cầu giải quyế t nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về án phí: Chị D phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2017/0000428 ngày 17/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B. Xác nhận chị D đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt án xử vắng mặt.

Cỡ chữ