- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 28; 35; 147; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/HNGĐ-ST Ngày 16-9-2019 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Thân Trọng Khôi
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Quang Vinh
Ông: Lê Văn La
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 16/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2019/QĐXXST-DS ngày 26/8/2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1989 (có mặt)
Nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Bị đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1988 (có mặt)
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Hiện cư trú: Thôn T, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/7/2019 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Văn V trình bày: Tôi kết hôn với chị Đặng Thị N ngày 03/5/2017, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến ngày 13/11/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo ban được nhau để cùng làm ăn phát triển kinh tế, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ ngày 13/11/2018. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn chị N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/7/2018, hiện con đang ở cùng chị N, con khỏe mạnh và phát triển bình thường, nay ly hôn tôi muốn để chị N nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Đặng Thị N trình bày: Anh V trình bày về thời gian kết hôn, quá trình mâu thuẫn như trên là đúng. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, tôi đồng ý ly hôn anh V. Về con chung như anh V trình bày là đúng, nay ly hôn tôi muốn để anh V nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản gì đáng giá, nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà hôm nay: Anh V, chị N đều có mặt giữ nguyên yêu cầu trên.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của thẩm phán, thư ký, hội thẩm nhân dân, anh V, chị N trong suốt quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật. Đề nghị xét xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh V và chị N; giao chị N nuôi con chung vì cháu còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi; về cấp dưỡng nuôi con, tài sản cả anh V và chị N đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết; anh V phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn đề nghị tuyên quyền kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu đầy đủ, toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, phạm vi khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/7/2019 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1989, nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, khởi kiện xin ly hôn chị Đặng Thị N, sinh năm 1988, Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, hiện cư trú: Thôn T, xã H, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; đề nghị giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản. Như vậy đây là quan hệ pháp luật tranh chấp hôn nhân và gia đình, phạm vi khởi kiện là đề nghị xin được ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết về con chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
Nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn V kết hôn với chị Đặng Thị N, ngày 03/5/2017, trên cơ sở tự nguyện, hợp pháp, đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 11/2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp nhau, nên trong cuộc sống và trong công việc làm ăn hàng ngày vợ chồng thường bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, không bảo ban được nhau để cùng làm ăn phát triển kinh tế, xây dựng hạnh phúc gia đình. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ vợ chồng từ tháng 11/2018. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cả anh V và chị N đều thỏa thuận xin được thuận tình ly hôn. HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã diễn ra căng thẳng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nguyện vọng xin được thuận tình ly hôn của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện cần chấp nhận. Xét là phù hợp Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nuôi con chung: Anh V và chị N sinh được 01 con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/7/2018. Hiê ̣n con đang ở cùng chị N, khoẻ mạnh và phát triển bình thườ ng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, cả anh V và chị N đều không muốn nuôi con và muốn đẩy trách nhiệm nuôi con này cho bên kia. Xét về điều kiện nuôi con thì cả anh V và chị N đều có điều kiện nuôi con như nhau, tuy nhiên vì cháu D còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, rất cần đến sự chăm sóc của người mẹ hơn, do vậy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con cần giao chị N nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay cả anh V và chị N đều không đề nghị Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết; anh V được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này, Xét là phù hợp Điều 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về chia tài sản: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay cả anh V và chị N đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận anh V đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0007013 ngày 16/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
* Áp dụng Điều 28; 35; 147; 235; 264; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 55; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Văn V và chị Đặng Thị N.
2/ Về nuôi con chung: Xử giao chị Đặng Thị N nuôi con chung là Nguyễn Ngọc D, sinh ngày 05/7/2018; anh V được quyền thăm nom con sau khi đã ly hôn, không ai được cản trở anh V thực hiện quyền này.
3/ Về án phí: Anh Nguyễn Văn V phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền anh V đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2018/0007013 ngày 16/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Án xử sơ thẩm công khai./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang. - VKSND huyện Lạng Giang - Chi cục THA huyện Lạng Giang - UBND xã Q, huyện Lạng Giang - Các đương sự - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Thân Trọng Khôi |