- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Y và anh Ph"
- Tòa quyết gì? Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 156/2019/TLST - HNGĐ,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn hng Hµ TØnh Th¸i B×nh | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/HNGĐ-ST Ngày: 16-8-2019 V/v ly hôn giữa chị Y và anh Ph. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bể và bà Quách Thị Anh Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 16-8-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 156/2019/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 về “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2019/HNGĐ - QĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị Y, sinh năm 1994 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Anh Vũ Văn Ph, sinh năm 1990 (vắng mặt). Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, chị Trương Thị Y trình bày: Chị kết hôn với anh Vũ Văn Ph trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H vào ngày 10-12-2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được 03 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, vợ chồng không bảo ban được nhau trong cuộc sống làm ăn, anh Ph không quan tâm đến vợ, con. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng và sống ly thân từ tháng 10 năm 2014 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Ph không còn, chị đề nghị Toà án nhân dân (TAND) huyện H giải quyết cho chị được ly hôn anh Ph. Về con chung: Chị và anh Ph có 01 con chung là Vũ Nhật A, sinh ngày 02/9/2014, vợ chồng sống ly thân chị là người trực tiếp nuôi dưỡng con. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi con, chị xin nuôi con hoàn toàn, không yêu cầu anh Ph góp cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có
Tại phiên tòa, trước khi Hội đồng xét xử nghị án, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định, người tham gia tố tụng đã chấp hành cơ bản đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ly hôn giữa chị Y và anh Ph; về nuôi con chung: Giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ph không phải góp cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Chưa giải quyết; về án phí: Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện H nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị Y khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn Ph, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện H, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào biên bản lấy lời khai các ngày 11-6-2019 và ngày 05-7-2019, ông Nguyễn Xuân Th (là ông ngoại của anh Ph), sinh năm 1947, trú tại Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình trình bày: Bố mẹ anh Ph ly hôn khi mẹ anh Ph đang mang thai anh Ph, 02 mẹ con sống ở gia đình ông cho đến khi anh Ph xây dựng gia đình với chị Y. Anh Ph kết hôn với chị Y do đôi bên tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H vào ngày 10-12-2013. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng tính tình không hợp, hay cãi cọ nhau. Chị Y bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh Ph đi vào nam làm ăn, đến khi chị Y sinh con thì anh Ph có về thăm. Sau đó hai vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2014 đến nay. Nay chị Y xin ly hôn anh Ph gia đình không mong muốn, nhưng do anh Ph và chị Y sống ly thân quá lâu nên đề nghị Toà án giải quyết cho anh Ph và chị Y được ly hôn. Về con chung: Anh Ph và chị Y có 01 con chung là Vũ Nhật A, sinh ngày 02-9-2014, hiện nay đang do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu ly hôn đề nghị Tòa án giao con cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có. Hiện nay anh Ph đang làm nghề tự do ở tỉnh Đồng Nai, không có nơi ở cố định, ông và anh Ph vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại, ông đã thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho anh Ph biết nhưng anh Ph không về Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình để giải quyết vụ án được, anh Ph đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh theo quy định của pháp luật.
Như vậy, anh Ph đã biết TAND huyện H đang thụ lý giải quyết vụ án ly hôn giữa anh và chị Y theo đơn khởi kiện của chị Y, nhưng anh không đến Tòa án để giải quyết vụ án, vì vậy, TAND huyện H mở phiên tòa xét xử vắng mặt anh Ph theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Y kết hôn với anh Ph là tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã H vào ngày 10-12-2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hòa thuận được 6 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng tình tính không hợp, thường xuyên cãi cọ nhau. Mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng, sống ly thân từ tháng 10 năm 2014 đến nay. Hội đồng xét xử thấy, chị Y và anh Ph m©u thuÉn ®· trÇm träng, cuéc sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ®ưîc. Chị Y khëi kiÖn yªu cÇu Tßa ¸n gi¶i quyÕt ly h«n anh Ph, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận.
Về nuôi con chung: Chị Yến và anh Ph có 01 con chung là Vũ Nhật A, sinh ngày 02-9-2014, hiện nay đang do chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận việc chị Y xin nuôi con hoàn toàn, không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con, anh Ph có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình
Về tài sản, nợ chung: Mặc dù chị Y và ông Th đều trình bày chị Y và anh Ph không có tài sản gì chung, không vay nợ ai nhưng do chưa có ý kiến trực tiếp của anh Ph nên Tòa án không xem xét giải quyết. Các bên có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản (nếu có) bằng vụ kiện dân sự khác.
Về án phí: Chị Y phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Từ các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Y và anh Vũ Văn Ph.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Vũ Nhật A, sinh ngày 02-9-2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Ph có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: Chưa giải quyết.
4. Về án phí: Chị Y phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005614 ngày 06-6-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình, chị Y đã nộp đủ tiền án phí.
Chị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Ph vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ N¬i nhËn:
- Đương sự;
(đã ký)
- VKSND huyện H;
- Chi cục THADS huyện H;
Trần Thị Nhàn
- Lưu tại UBND xã H;
- Lưu hồ sơ TOÀ ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN HƯNG HÀ
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc TỈNH THÁI BÌNH
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 10 ngày 16 tháng 8 năm 2019
Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình.
Với Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bể và bà Quách Thị Anh Thơ.
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 156/2019/TLST - HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2019 về “Ly hôn” giữa:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị Y, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Anh Vũ Văn Ph, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị Y và anh Vũ Văn Ph.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Vũ Nhật A, sinh ngày 02-9-2014 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng, anh Ph không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Ph có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: Chưa giải quyết.
4. Về án phí: Chị Y phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Y đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005614 ngày 06-6-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình, chị Y đã nộp đủ tiền án phí.
Chị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Ph vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Biểu quyết nhất trí: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 09 giờ 25 phút ngày 16-8-2019.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH Số: 20/2019/ HNGĐ - QĐ Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn. H, tỉnh Thái Bình. Nguyễn Văn Kiên - Kiểm sát viên. 156/2019/TLST-HNGĐ, ngày 06-6-2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2019/QĐST -HNGĐ, ngày 12-2-2019. nhất nhưng vắng mặt tại phiên tòa. sự; ngày 06-6-2019 về việc “Ly hôn”. Bình. *Nơi nhận: - VKSND cùng cấp; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hưng Hà, ngày 30 tháng 7 năm 2019 QUYẾT ĐỊNH HOÃN PHIÊN TOÀ TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Bể và bà Quách Thị Anh Thơ. Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên toà: Ông Đã tiến hành mở phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án dân sự thụ lý số Xét thấy bị đơn là anh Vũ Văn Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ Căn cứ vào các Điều 227, Điều 233 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân QUYẾT ĐỊNH 1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 156/2019/TLST - HNGĐ, 2. Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: Thời gian mở lại phiên toà vào hồi 7 giờ 30 ngày 16 tháng 8 năm 2019; Địa điểm mở phiên toà: Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Thái TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Nhàn |