vanban.org

Bản án 43/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thanh T: Xác định anh Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 14/12/1978; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/3/2019 là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K, sinh ngày 04 tháng 3 năm …

Về án phi dân sự: Anh Nguyễn Hoàng D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ́ nghìn) tiền án phi dân sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án xác định cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thanh T: Xác định anh Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 14/12/1978; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/3/2019 là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K, sinh ngày 04 tháng 3 năm …
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HNGĐ-ST
Ngày 23-10-2019
V/v xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Phương

Ông Phùng Văn Thuấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thiệm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019 về xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXX-ST ngày 16 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04/9/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị T; nơi ĐKHKTT: Số 6/12/106 L, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Số nhà 467, đường Đ, Tổ dân phố số 1, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng D; địa chỉ: Số nhà 467, đường Đ, Tổ dân phố số 1, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc Dg; địa chỉ: Số 02, Đ2, Tổ C7, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 6 năm 2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Bùi Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Ngọc Dg kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường phường L, quận N, thành phố Hải Phòng vào năm 2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chúng sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, sau đó sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau về mọi mặt, anh Dg sống ở đâu như thế nào chị cũng không rõ. Trong thời gian này, chị có nảy sinh tình cảm và sống như vợ chồng với anh Nguyễn Hoàng D, sau đó có thai với anh D. Đến ngày 04 tháng 3 năm 2019 chị sinh cháu Nguyễn Việt K (tên dự định đặt trong giấy chứng sinh là Nguyễn Hoàng A) theo Giấy chứng sinh số 02530 ngày 04/3/2019 của Bệnh viện phụ sản Hải Phòng. Do chị sinh cháu K khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân với anh Dg nên anh D đã đề nghị xét nghiệm ADN để xác định quan hệ huyết thống giữa anh D và cháu K. Kết quả xét nghiệm xác định anh Nguyễn Hoàng D và cháu Nguyễn Việt K có quan hệ huyết thống cha con. Nay để đảm bảo quyền lợi cho chị và cháu K, chị đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Hoàng D là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2019.

Tại bản tự khai và trong quá trình xét xử, bị đơn là anh Nguyễn Hoàng D trình bày:

Anh xác nhận về nội dung như lời trình bày của chị T là đúng sự thật. Anh và chị T có tình cảm, sống như vợ chồng với nhau từ năm 2018. Bởi vì anh nghĩ rằng giữa chị T và anh Dg đã ly hôn từ lâu, không còn ràng gì buộc. Vì vậy, anh và chị T có quan hệ tình cảm như vợ chồng được hơn một năm. Đến ngày 04/3/2019 chị T sinh cháu Nguyễn Việt K. Anh đã làm thủ tục xét nghiệm ADN để xác định quan hệ huyết thống giữa anh và cháu Khoa. Kết quả xét nghiệm xác định anh và cháu K có quan hệ huyết thống cha con. Nay để đảm bảo quyền và lợi hợp pháp cho con, anh đề nghị Tòa án xác định anh là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2019.

Sau khi thu lý vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý số 226/TB-TLVA ngày 09/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Ngọc Dg theo địa chỉ của nguyên đơn cung cấp. Tuy nhiên, anh Dg vắng mặt tại địa phương, Tòa án cũng đã tiến hành xác minh nhưng không rõ anh Dg hiện nay ở đâu. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo khoản 5 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã xuất trình cho Tòa án Giấy chứng sinh số 02530 ngày 04/3/2019 của Bệnh viện phụ sản Hải Phòng; Bản Kết quả xét nghiệm ADN ngày 28/3/2019 của Công ty trách nhiệm hữu hạn LOCI ADN, có nội dung kết luận anh Nguyễn Hoàng D và cháu Nguyễn Việt K cùng quan hệ huyết thống Cha – Con; Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 236/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15/7/2019 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị T và anh Nguyễn Ngọc Dg.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên anh Nguyễn Hoàng D là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K, sinh ngày 04/3/2019 theo Giấy chứng sinh số 02530 ngày 04/3/2019 của Bệnh viện phụ sản Hải Phòng. Nguyên đơn được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng D, hiện cư trú tại số nhà 467, đường Đ, Tổ dân phố số 1, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên toà, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Ngọc Dg vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Dg.

Về yêu cầu xác định cha cho con: Chị T và anh Dg có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, quận N, thành phố Hải Phòng từ năm 2007. Sau khi kết hôn anh chị chúng sống đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, rồi sống ly thân. Trong thời gian sống ly thân với anh Dg, chị T có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng với anh Nguyễn Hoàng D. Đến ngày 04 tháng 3 năm 2019 chị T sinh cháu Nguyễn Việt K (tên dự định đặt trong giấy chứng sinh là Nguyễn Hoàng A) theo Giấy chứng sinh số 02530 ngày 04/3/2019 của Bệnh viện phụ sản Hải Phòng.

Xét tại Kết quả xét nghiệm ADN ngày 28/3/2019 của Công ty trách nhiệm hữu hạn LOCI AND và tại Văn bản trả lời số 176/CV-LOCI AND của Công ty trách nhiệm hữu hạn LOCI ADN, có nội dung kết luận “người có mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Hoàng D và người có mẫu ADN ký hiệu Nguyễn Việt K có cùng quan hệ huyết thống Cha-Con”. Xét tại lời khai của chị Bùi Thị T phù hợp với lời trình bày của anh Nguyễn Hoàng D, phù hợp với Kết quả xét nghiệm ADN của Công ty trách nhiệm hữu hạn LOCI AND nên Hội đồng xét xử công nhận đó là sự thật khách quan theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Như vậy, yêu cầu của chị T xác định anh Nguyễn Hoàng D là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận.

Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 88, 89, 91, 101 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Thanh T: Xác định anh Nguyễn Hoàng D, sinh ngày 14/12/1978; số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 22/3/2019 là cha đẻ của cháu Nguyễn Việt K, sinh ngày 04 tháng 3 năm 2019 theo Giấy chứng sinh số 02530 ngày 04/3/2019 của Bệnh viện phụ sản Hải Phòng.

2. Về án phi dân sự: Anh Nguyễn Hoàng D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm

́ nghìn) tiền án phi dân sự sơ thẩm.

́

5. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

̀

̉ SƠ THẨ

TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XƯ

M

- TANDTP Hải Phòng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTP Hải Phòng;

- VKSND quâ ̣n Hải An;

- Chi cu ̣c THA Dân sự quâ ̣n Hải An;

- UBND phường Đằng Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ vụ án; HCTP.

Nguyễn Văn Mạnh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mạnh TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN

GIAO NHẬN VĂN BẢN TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN

Vào hồi…..h….. ngày tháng năm 2019 Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng Người giao: Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An. Đã giao: Bản án số 36/2019/HNGĐ-ST ngày 06/9/2019 Của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Cho: Anh Đỗ Văn Truyền Là: Bị đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình Người đã nhận trực tiếp đọc lại biên bản, nhất trí và ký tên.

Người nhận

Người giao

Nguyễn Kim Thanh TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN

GIAO NHẬN VĂN BẢN TỐ TỤNG CỦA TÒA ÁN

Vào hồi…..h….. ngày

tháng năm 2018

Tại: Trụ sở Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Hải Phòng Người giao: Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An. Đã giao: Bản án số 36/2019/HNGĐ-ST ngày 06/9/2019 Của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng Cho: Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, Hải Phòng Người đã nhận trực tiếp đọc lại biên bản, nhất trí và ký tên.

Người nhận

Người giao

Nguyễn Kim Thanh

Cỡ chữ