vanban.org

Bản án 43/2019/DS-ST — Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B đối với anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T.

Công nhận hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/02/2019 ký kết giữa bà B với anh T, chị T đối với phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp vào sổ số: CH 00702 ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự — án dân sự — "Lê Thị B - Nguyễn Thanh T, Mai Thị Kim T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B đối với anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 124 Bộ luật Dân sự; Điều 129 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/DS-ST
Ngày: 13-9-2019
V/v tranh chấp liên quan đến tài
sản bị cưỡng chế để thi hành án
theo quy định của pháp luật về thi
hành án dân sự.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thiên Di.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Thái Văn Lộc;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 137/2019/TLST- DS ngày 17 tháng 5 năm 2019 về “tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị B, sinh năm 1959; cư trú tại: Số 613, ấp G, xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh; “vắng mặt có đơn xin”.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983 và chị Mai Thị Kim T, sinh năm 1987; cùng cư trú tại: Tổ 3, ấp Thành Tây, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; “vắng mặt có đơn xin”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 03/5/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị B trình bày:

Trước đây vào ngày 07/10/2016, vợ chồng anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T có mượn của con bà B là chị Lê Thị Hoàng Kim N số tiền 250.000.000 đồng. Khi chị N đòi lại số tiền trên thì anh T, chị T không còn khả năng trả nợ và có ý định bán đất cho chị N để trừ nợ, nhưng chị N không đủ tiền mua. Do đó, ngày 17/9/2018 chị N giới thiệu cho anh T, chị T đến gặp bà B để thỏa thuận việc bán đất cho bà B. Các bên bàn bạc và thống nhất là vợ chồng anh T, chị T sang nhượng cho bà B phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp cho anh T, chị T đứng tên ngày 22/10/2014, vào sổ số: CH 00702, với giá là 520.000.000 đồng. Tại thời điểm này bà B cũng chưa có đủ tiền và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T, chị T lại đang thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh tỉnh Tây Ninh vay số tiền 210.000.000 đồng. Vì vậy, hai bên thống nhất làm giấy tay sang nhượng, thỏa thuận ngày làm giấy tay 17/9/2018 bà B sẽ giao số tiền 297.000.000 đồng cho vợ chồng anh T, chị T xoay sở gia đình và trả nợ cho chị N 210.000.000 đồng (trước đó đã trả 40.000.000 đồng); đến thời gian khoảng 05 tháng sau bà B có đủ tiền sẽ giao cho anh T, chị T 210.000.000 đồng và số tiền lãi phát sinh để anh chị đi chuộc lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thế chấp tại Ngân hàng, tiếp đó sẽ đi làm thủ tục sang tên theo quy định pháp luật. Vợ chồng anh T, chị T đã bàn giao tài sản là phần đất cho bà B tiếp nhận sử dụng từ ngày 17/9/2018, bà B nhận đất, cắm trụ rào và trồng một số hoa màu trên đất cho đến nay. Các bên đã thực hiện đúng các nội dung thỏa thuận, đến ngày 28/02/2019 khi bà B có đủ tiền thì cùng nhau đi trả nợ Ngân hàng và đến Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh tiến hành làm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo mẫu và được Ủy ban nhân dân xã H chứng thực hợp đồng đúng quy định. Trong suốt quá trình tiến hành hợp đồng chuyển nhượng giữa bà B và vợ chồng anh T, chị T thì không có ai tranh chấp, cũng như không có thông báo hay quyết định kê biên nào của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng đối với phần đất trên. Ngày 07/3/2019 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện Châu Thành đã vào sổ trích lục bản đồ địa chính số 63. Đến ngày 11/3/2019 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành gửi Quyết định số 32/QĐ-CCTHADS về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng đối với phần đất mà các bên chuyển nhượng nêu trên đến Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện Châu Thành. Nay bà B yêu cầu vợ chồng anh T, chị T có trách nhiệm hoàn tất thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22/10/2014 cho anh T, chị T đứng tên. Nếu Tòa án không cho lưu thông hợp đồng thì bà B yêu cầu vợ chồng anh T, chị T hoàn trả lại số tiền bà B đã bỏ ra và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật.

- Theo các lời khai trong quá trình làm việc, bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:

Anh T thừa nhận lời trình bày của bà B là hoàn toàn đúng, anh đồng ý hoàn tất thủ tục sang nhượng quyền sử dụng đất phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 22/10/2014 do vợ chồng anh đứng tên cho bà B. Anh T yêu cầu Tòa án xem xét cho lưu thông hợp đồng, nếu không lưu thông được anh đồng ý ý kiến giải quyết hậu quả hợp đồng của bà B.

- Theo các lời khai trong quá trình làm việc, bị đơn chị Mai Thị Kim T trình bày: Chị T thống nhất với lời trình bày của chồng là anh Nguyễn Thanh T, yêu cầu Tòa án cho lưu thông hợp đồng. Tại phiên tòa:

Bà Lê Thị B và vợ chồng anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B đối với anh T, chị T. Công nhận hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/02/2019 ký kết giữa bà B với anh T, chị T đối với phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp cho anh T, chị T đứng tên ngày 22/10/2014, vào sổ số: CH 00702.

Về chi phí thẩm định giá: Ghi nhận bà B tự nguyện chịu và đã nộp xong.

Về án phí: Anh T, chị T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung vụ án, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự” theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị B và bị đơn, anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.

Về nội dung vụ án: Bà Lê Thị B yêu cầu cho lưu thông hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với anh T, chị T ký kết ngày 28/02/2019, đối tượng của hợp đồng là phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp vào sổ số: CH 00702 ngày 22/10/2014 cho anh T, chị T đứng tên, trên đất có 02 cây xanh. Xét thấy, hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất giữa bà B và anh T, chị T lập ngày 28/02/2019 là hợp pháp, có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà B. Tại thời điểm chuyễn nhượng, phần đất trên không bị kê biên, không có ai tranh chấp. Về hình thức hợp đồng, hai bên đã thực hiện chứng thực đúng quy định, đã tiến hành thủ tục đăng ký vào sổ địa chính. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Tây Ninh – Chi nhánh huyện Châu Thành đã chỉnh lý hồ sơ địa chính đối với phần đất chuyễn nhượng trên trước thời điểm Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành có Quyết định về việc tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng đối với phần đất mà các bên chuyển nhượng nêu trên; do đó hợp đồng chuyễn nhượng giữa hai bên đã có hiệu lực theo quy định tại khoản 3 Điều 188 Luật đất đai. Bên mua đã giao đủ tiền và nhận đất, sử dụng từ tháng 09/2018 đến nay. Khi mua đất, bà B không biết việc anh T, chị T thiếu nợ người khác, việc bà B mua phần đất trên là ngay tình. Số tiền anh T, chị T bán đất chủ yếu sử dụng vào mục đích trả nợ Ngân hàng và trả nợ cho chị N. Căn cứ chứng thư thẩm định giá phần đất trên và kết quả xác minh tại địa phương cho thấy giá chuyễn nhượng không chênh lệch lớn so với giá thực tế tại thị trường. Do đó, không có cơ sở cho rằng việc mua bán đất giữa bà B với anh T, chị T là hành vi tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

Về chi phí tố tụng (thẩm định giá): Trong đơn xin xét xử vắng mặt, bà Lê Thị B tự nguyện chịu 4.000.000 đồng tiền chi phí thẩm định giá nên ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà B được chấp nhận, căn cứ Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc anh T, chị T phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 124, 129 của Bộ luật Dân sự; các Điều 95, 188 của Luật đất đai; các Điều 26, 35, 39, 147 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị B đối với anh Nguyễn Thanh T, chị Mai Thị Kim T.

Công nhận hợp đồng chuyễn nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/02/2019 ký kết giữa bà B với anh T, chị T đối với phần đất diện tích 289,9m2 thuộc thửa đất số 59, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Tây Ninh do Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cấp vào sổ số: CH 00702 ngày 22/10/2014 cho anh T, chị T đứng tên, trên đất có 02 cây xanh.

Về chi phí tố tụng (thẩm định giá): Bà Lê Thị B tự nguyện chịu 4.000.000 (bốn triệu) đồng tiền chi phí thẩm định giá và đã nộp xong nên ghi nhận.

2. Về án phí: Anh T, chị T phải chịu án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- TAND tỉnh Tây Ninh;

- VKSND H.Châu Thành;

- THADS H.Châu Thành;

- Các đương sự;

- Lưu

(Đã kí)

Nguyễn Thiên Di Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1). (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH Thắng Lợi). Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...). (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự.

(26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong

vụ án (về áp dụng pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ].

(27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau:

Cỡ chữ