vanban.org

Bản án 43/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Đình chỉ một phần khởi kiện của chị Y đối với chị B về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản với số tiền là 42.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y đối với chị B về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản. Buộc chị B trả cho chị Y số tiền hụi và tiền vay còn nợ là 78.000.000 đồng (Bảy mươi tám triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "“V/v tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản”"
  • Tòa quyết gì? Đình chỉ một phần khởi kiện của chị Y đối với chị B về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản với số tiền là 42.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH THƢỢNG
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/DS-ST
Ngày 14/11/2019
“V/v tranh chấp hợp đồng
dân sự về góp hụi và vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƢỢNG -TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣ Quốc Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Võ Minh Sơn

2- Bà Phạm Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Thị Thúy Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Hoa-Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 99/2019/TLST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2019/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2019/QĐST-DS ngày 29 tháng 10 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Y, sinh năm 1988. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã T A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

2. Bị đơn: Chị B, sinh năm 1987 cùng chồng là anh T, sinh năm 1987. (Cả hai đều vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp X A, xã T A, huyện U, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/6/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Y trình bày và yêu cầu như sau:

Chị B có tham gia chơi hụi do chị Y làm chủ hụi, cụ thể như sau:

- Hụi mở ngày 15/8/2016 âm lịch, 5.000.000 đồng/phần, có 20 hụi viên tham gia là 20 phần, 03 tháng khui hụi 01 lần. Trong đó chị B tham gia 01 phần, lĩnh hụi vào ngày 15/8/2016 âm lịch với số tiền 46.900.000 đồng. Sau khi lĩnh hụi chị Bkhông góp hụi chết từ ngày 16/8/2017 âm lịch đến mãn hụi là 19 lần x 5.000.000 đồng = 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng).

- Hụi mở ngày 19/8/2016 âm lịch, 1.000.000 đồng/phần, có 22 hụi viên tham gia là 28 phần, 01 tháng khui hụi 01 lần. Chị B tham gia 01 phần, góp hụi hàng tháng đến ngày 19/01/2017 âm lịch thì lĩnh hụi với số tiền 17.540.000 đồng. Chị B không góp hụi chết từ ngày 20/01/2017 âm lịch đến mãn hụi là 22 lần x 1.000.000 đồng = 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng).

- Hụi mở ngày 06/12/2016 âm lịch, 3.000.000 đồng/phần, có 20 hụi viên tham gia là 22 phần, 02 tháng khui hụi 01 lần.Chị B tham gia 01 phần góp hụi đến ngày 06/11/2017 âm lịch thì lĩnh hụi với số tiền 39.600.000 đồng. Chị B chưa góp hụi chết từ ngày 07/11/2017 âm lịch đến ngày mãn hụi là 18 lần x 3.000.000 đồng = 54.000.000 đồng.

Ngoài ra chị Y cho chị B vay số tiền 23.000.000 đồng.

Tổng cộng tiền hụi chưa góp và tiền vay là 165.000.000 đồng, chị B đã thừa nhận thông qua biên nhận nợ. Trừ ra 07 lần chị Bđã góp hụi cho chị là 35.000.000 đồng, số nợ còn lại là 130.000.000 đồng. Theo đơn khởi kiện chị Y yêu cầu vợ chồng chị B, anh Ttrả số tiền 130.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Theo biên bản ghi lời khai ngày 20/9/2019 chị Ythay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, với lý do trong thời gian cam kết chị Bđã trả cho chị Y 10.000.000 đồng, nên chị Yyêu cầu chị Bvà anh Ttrả số tiền còn lại là 120.000.000 đồng.

Bị đơn chị B, anh T vắng mặt tại phiên tòa. Tại biên bản ghi lời khai ngày 07/10/2019 chị Btrình bày như sau:

Chị B thừa nhận có tham gia chơi hụi và vay tiền của chị Y. Tiền lĩnh hụi chị B dùng để chi tiêu trong gia đình. Do không có tiền góp hụi cho chị Y nên chị B có vay tiền của chị Y để trang trải. Đến nay chị Bcòn nợ chị Y 120.000.000 đồng. Chị B không có khả năng trả một lần toàn bộ số nợ trên, yêu cầu chị Y cho chị Btrả dần mỗi năm từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Y xin thay đổi một phần nội dung khởi kiện như sau: Theo nội dung khởi kiện ban đầu chị yêu cầu chị B, anh T trả số tiền nợ tổng cộng là 130.000.000đ, trong thời gian thỏa thuận chị B có trả cho chị được số tiền là 10.000.000đ, còn lại 120.000.000đ. Chị xin rút lại 1 phần nội dung khởi kiện là yêu cầu chị B trả số tiền là 78.000.000đ còn số tiền 42.000.000đ trong đó dây hụi 5.000.000đ còn 06 lần và dây hụi 3.000.000đ còn 04 lần chưa đến hạn chị sẽ khởi kiện sau.

Về trách nhiệm trả nợ, chị Y chỉ yêu cầu chị Bcó trách nhiệm trả nợ, không yêu cầu anh T chồng chị Y phải có trách nhiệm cùng trả nợ với chị Y.

Chị B, anh T vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền xét xử: Xét mối quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng dân sự, nơi bị đơn cư trú tọa lạc trên địa phận hành chính của huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang nên căn cứ Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về quan hệ pháp luật: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Y đối với chị B, anh T thì đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản, các giao dịch này thực hiện sau ngày 01/7/2016 nên được điều chỉnh theo quy định tại các Điều 463, 471, điểm b, khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn chị B, anh T được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với bị đơn chị B, anh T.

Về nội dung vụ án: Chị Y yêu cầu giải quyết buộc vợ chồng chị B, anh T có trách nhiệm trả số tiền hụi và tiền vay là 78.000.000 đồng. Xét yêu cầu của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên nhận nợ “Tờ thừa nhận” đề ngày 24/9/2018, biên bản xác minh và lời thừa nhận của chị B trong quá trình giải quyết vụ án, có đủ căn cứ để xác định chị B có tham gia chơi hụi và vay tiền của chị Y, chị B còn nợ chị Y số tiền 130.000.000 đồng.

Tuy nhiên trong số tiền này, chị B trả được 10.000.000đ còn số tiền 42.000.000đ chưa đến hạn nên chị xin rút lại.

Tại biên bản ghi lời khai chị B thừa nhận toàn bộ số tiền đúng như chị Y trình bày.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Đại diện Viện Kiêm sát. Hội đồng xét xử căn cứ các điều 463, 466, 471 Bộ luật dân sự năm 2015, buộc chị B trả cho chị Y số tiền 78.000.000 đồng (Bảy mươi tám triệu đồng).

Chị Y không yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị B phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 78.000.000 đồng x 5% = 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm ngàn đồng).

Chị Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000944 ngày 04 tháng 6 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 471 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 26, 39, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Đình chỉ một phần khởi kiện của chị Y đối với chị B về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản với số tiền là 42.000.000đ (Bốn mươi hai triệu đồng)

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y đối với chị B về việc tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi và vay tài sản.

Buộc chị B trả cho chị Y số tiền hụi và tiền vay còn nợ là 78.000.000 đồng (Bảy mươi tám triệu đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị B phải chịu án phí do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận là 78.000.000 đồng x 5% = 3.900.000 đồng (Ba triệu chín trăm ngàn đồng).

Chị Y được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.250.000 đồng (Ba triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000944 ngày 04 tháng 6 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/11/2019). Đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc tống đạt hợp lệ Bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ