- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "dân sự"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/DS-ST Ngày 22.8.2019 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thanh Phúc
Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Xoa
- Ông Huỳnh Thanh Trà
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Trang - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 22.8.2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - 24 Hoàng Văn Thụ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 64/2019/TLST-DS ngày 18 tháng 04 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐST-DS ngày 19.07.2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 55a/2019/QĐST – DS ngày 05/08/2019 giữa các đương sự:
• Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A. Địa chỉ trụ sở: Đường M, phường N, quận P, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật là ông Huỳnh Bửu Q – Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền gồm ông Đinh Văn Th – sinh năm: 1989 (Vắng mặt); ông Nguyễn Tiến T, sinh năm: 1987 (Có mặt); ông Nguyễn Xuân H, sinh năm: 1978 (Vắng mặt). Cùng địa chỉ liên lạc: Đường M, phường N, quận P, thành phố Đà Nẵng. ( Giấy ủy quyền số 847/2019/UQ – TGĐ 12 ngày 07/03/2019).
• Bị đơn: Bà Lê Thị Ngọc H. Địa chỉ: Đường M, phường N, quận P, thành phố Đà Nẵng ( Vắng mặt)
NHẬN THẤY:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/03/2019, quá trình giải quyết vụ án và tại bản tự khai ông Nguyễn Tiến T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A trình bày:
Vào ngày 29/04/2016, bà Lê Thị Ngọc H có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần A với nội dung bà H vay số tiền gốc là 110.000.000 đồng; mục đích vay là để tiêu dùng cá nhân và gia đình; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 19%/năm tính trên dư nợ thực tế và được điều chỉnh theo thông báo của bên cho vay.
Thực hiện hợp đồng ngày 29/04/2016, Ngân hàng Thương mại cổ phần A đã giải ngân cho cho bà Lê Thị Ngọc H theo khế ước nhận nợ số 29.04/CVCN – LTNH với số tiền 110.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 24/11/2016 bà Lê Thị Ngọc H đã vi phạm trả nợ theo hợp đồng đã ký kết. Tính đến ngày 21/02/2019 dư nợ khoản vay của bà Lê Thị Ngọc H là: Nợ gốc: 100.004.041 đồng; nợ lãi trong hạn: 44.960.175 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.340.791 đồng. Tổng cộng: 148.305.007 đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A yêu cầu bà H phải thanh toán cả gốc và lãi tính đến ngày 22/08/2019 với tổng số tiền: 159.616.260 đồng. Trong đó, nợ gốc là 100.004.041 đồng, lãi trong hạn: 54.618.899 đồng, lãi quá hạn: 4.993.321 đồng. Kể từ ngày 23/08/2019 bà Lê Thị Ngọc H còn phải tiếp tục trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A số tiền phát sinh theo hợp đồng cho vay đã ký kết trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi tất toán khoản vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa nhiều lần đối với bị đơn bà Lê Thị Ngọc H để lấy lời khai và hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà H không có mặt và không có lý do gì về việc vắng mặt nên không lấy được lời khai và hòa giải về nội dung tranh chấp trong vụ án được.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm: Về chấp hành pháp luật tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, phát biểu quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa lần thứ hai hôm nay, bị đơn bà Lê Thị Ngọc H đều vắng mặt và không có lý do. Do đó, HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần A yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị Ngọc H phải trả cho ngân hàng tổng số tiền là 159.616.260 đồng. Trong đó, nợ gốc là 100.004.041 đồng, lãi trong hạn: 54.618.899 đồng, lãi quá hạn: 4.993.321 đồng.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thấy: Ngày 29/04/2019 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần A và bà Lê Thị Ngọc H có ký Hợp đồng tín dụng số 29.04/2016/HĐCV – LTNH ngày 29/04/2016, theo đó ngân hàng cho bà Lê Thị Ngọc H vay số tiền 110.000.000 đồng; thời hạn vay 60 tháng, lãi suất vay 19%/năm tính trên dư nợ thực tế và được điều chỉnh theo thông báo của bên Ngân hàng Thương mại cổ phần A. Thực hiện hợp đồng, phía ngân hàng đã giải ngân cho cho bà Lê Thị Ngọc H số tiền 110.000.000 đồng vào ngày 29/04/2016.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 24/11/2016 bà Lê Thị Ngọc H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A theo thỏa thuận trong hợp đồng số 29.04/2016/HĐCV – LTNH ngày 29/04/2016 và khế ước nhận nợ số số 29.04/2015/CVCN – LTNH ngày 29/04/2016, mặc dù phía ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần A, buộc bà Lê Thị Ngọc H phải trả cho ngân hàng tổng số tiền là 159.616.260 đồng. Trong đó, nợ gốc là 100.004.041 đồng, lãi trong hạn: 54.618.899 đồng, lãi quá hạn: 4.993.321 đồng.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị Ngọc H phải chịu theo quy định của pháp luật là: 7.980.813 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng Thương mại cổ phần A đối với bà Lê Thị Ngọc H.
Xử:
1. Buộc bà Lê Thị Ngọc H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A tổng số tiền là 159.616.260 đồng. Trong đó, nợ gốc là 100.004.041 đồng, lãi trong hạn: 54.618.899 đồng, lãi quá hạn: 4.993.321 đồng.
2. Kể từ ngày 23.08.2019 bà Lê Thị Ngọc H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 29.04/2016/HĐCV – LTNH ngày 29/04/2016 và khế ước nhận nợ số số 29.04/2015/CVCN – LTNH ngày 29/04/2016 cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm bà Lê Thị Ngọc H phải chịu theo quy định của pháp luật là 7.980.813 đồng. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A đã nộp là: 3.707.625 đồng theo biên lai thu số 0006976 ngày 12/04/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
4. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- Đương sự;
THẨM PHÁN
- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Lưu hồ sơ vụ án.
TRƯƠNG THANH PHÚC
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Xoa Huỳnh Thanh Trà
Trương Thanh Phúc
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN TRƯƠNG THANH PHÚC HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Trương Thanh Phúc |