- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng C - Nguyễn Thanh H, Châu Thị Th"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao đối với bị đơn là ông Nguyễn Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 11 Bộ luật Dân sự; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện; Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/DS-ST Ngày: 06-12-2019. V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Đào.
2. Bà Lương Thị Hồng Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên toà: Bà Thị Xà Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 70/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2019 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 10 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2019/QĐST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng C.
Địa chỉ: Tòa nhà CC5, bán đảo L, phường H, quận M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Triều Q, sinh năm 1980 - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Địa chỉ: Khu Phố Ph, Thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H - sinh năm 1975 (vắng mặt).
Bà Châu Thị Th - sinh năm 1983 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp Th, xã Q, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng C và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Triều Q trình bày: Vào ngày 17/5/2009, ông Nguyễn Thanh H có đến Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang thỏa thuận vay số tiền 20.000.000 đồng theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800083905, lãi suất 0,9%/tháng, thời hạn vay là 36 tháng, hạn trả cuối cùng là ngày 17/5/2012, kỳ hạn trả nợ gốc là 06 tháng trả 01 lần, ngày bắt đầu trả nợ là 17/5/2010. Mục đích vay là cải tạo vườn tạp. Lãi suất nợ quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay.
Nay đã quá hạn trả nợ nhưng ông H vẫn chưa trả cho Ngân hàng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H phải thanh toán số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 06/12/2019 là 33.958.376 đồng (trong đó vốn gốc là 20.000.000đ và lãi trong hạn là 10.737.210đ, lãi quá hạn là 3.221.166đ) và lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ cho Ngân hàng.
Đối với bà Châu Thị Th thì tại phiên tòa người đại theo ủy là ông Nguyễn Triều Quang xin rút không yêu cầu bà Th cùng trả nợ với ông H nên yêu cầu Tòa án đình chỉ.
Tại bản tự khai ngày 03/5/2019 ông Nguyễn Thanh H trình bày: Vào ngày 17/5/2009 tôi có đến Ngân hàng Chính sách huyện Gò Quao vay số tiền 20.000.000 đồng vì tôi thuộc hộ nghèo nên được vay, lãi suất bao nhiêu tôi cũng không nhớ, khi nào trả nợ thì tôi cũng không nhớ và hợp đồng số mấy tôi không biết. Từ lúc vay đến nay tôi chưa trả vốn và lãi cho Ngân hàng. Sau đó, khoảng 5 năm thì Ngân hàng có xuống nhà yêu cầu tôi trả nợ nhưng do hoàn cảnh khó khăn nên tôi không thể trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng kiện thì tôi xin trả nợ gốc là 20.000.000 đồng và không đồng ý trả tiền lãi do tôi không có tiền, tôi xin hẹn khi nào có tiền sẽ trả nợ gốc cho Ngân hàng.
Tại bản tự khai ngày 03/5/2019 bà Châu Thị Th trình bày: Vào ngày 31/8/2017 tôi kết hôn với anh Nguyễn Thanh H, hiện nay vợ chồng tôi chưa có con chung. Đối với số nợ mà Ngân hàng khởi kiện vợ chồng tôi do chồng tôi vay vào ngày 17/5/2009 thì tôi hoàn toàn không biết gì hết, tôi không liên quan gì đối với số nợ này, yêu cầu Ngân hàng giải quyết với chồng tôi vì số nợ này chồng tôi đã sử dụng trước khi cưới tôi.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết của Tòa án cũng như các thủ tục hòa giải, thủ tục tố tụng tại phiên tòa là đúng theo qui định. Đối với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa là không tuân thủ quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cũng còn một số vi phạm như: Vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử, đề nghị Tòa án khắc phục sau này.
Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự cũng như tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với các quy định của pháp luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả cho Ngân hàng số tiền vốn gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 06/12/2019 là 33.958.376 đồng và lãi phát sinh cho đến ngày trả hết nợ cho Ngân hàng.
Đối với bà Châu Thị Th, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút không yêu cầu bà Th cùng trả nợ với ông H nên đề nghị HĐXX đình chỉ xét xử đối với bà Châu Thị Th.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao với ông Nguyễn Thanh H, bà Châu Thị Th là tranh chấp về dân sự được quy định tại Điều 26 và Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Ông Nguyễn Thanh H, bà Châu Thị Th là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng ông, bà đã được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án vẫn tiến hành xét xử là phù hợp.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cho thấy giao dịch giữa các đương sự là thỏa thuận vay tài sản. Do vậy, khi các bên xảy ra tranh chấp thì căn cứ vào các quy định về hợp đồng vay tài sản để giải quyết là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Do đó, Hai bên đượng sự thừa nhận ông Nguyễn Thanh H có vay của Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang số tiền vốn gốc là 20.000.000 đồng. Từ khi vay đến nay, phía ông H không thanh toán được số tiền vốn gốc và lãi lần nào cho Ngân hàng nên còn thiếu lại số tiền vốn là 20.000.000 đồng đến nay đã quá hạn mà chưa trả cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo qui định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do đó, cần buộc ông H phải trả cho Ngân hàng số nợ trên là có căn cứ.
Đồng thời, theo bảng kê tính lãi của Ngân hàng đến ngày xét xử là ngày 06/12/2019 thì ông H còn nợ tiền lãi là 13.958.376 đồng. Việc tính lãi của Ngân hàng là đúng thỏa thuận trong giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800083905 là phù hợp với qui định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800083905 giữa các bên có quy định về lãi suất, thời hạn vay, phương thức thanh toán nợ gốc và lãi. Những quy định trong giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800083905 không trái với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Tuy nhiên, trong thời gian thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Thanh H không thực hiện đúng cam kết theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800083905 cho đến nay, bên vay là ông Nguyễn Thanh H đã vi phạm về thời hạn trả nợ nên căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 buộc ông Nguyễn Thanh H phải trả khoản nợ vay và lãi phát sinh cho ngân hàng là phù hợp. Đối với yêu cầu của Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao yêu cầu buộc ông Nguyễn Thanh H tiếp tục chịu lãi phát sinh theo thỏa thuận của giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ số 6000005800083905 đã ký kết là phù hợp với nội dung Án lệ số 08/2016Al của Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do đó, buộc ông H phải trả cho Ngân hàng tổng vốn gốc và lãi tính đến ngày xét xử ngày 06/12/2019 là 33.958.376 đồng.
Đối với yêu cầu bà Châu Thị Th cùng trả nợ với ông H, tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Triều Q xin rút không yêu cầu bà Châu Thị Th cùng trả nợ với ông H nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 217, 218, 219 của Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao.
Tại phiên tòa vị Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đối với bị đơn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên lời đề nghị này của vị đại Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ và đúng pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí DSST có giá ngạch: Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Ông Nguyễn Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm giá ngạch là: 33.958.376 đồng x 5% = 1.697.918,8 đồng làm tròn là 1.698.000đ (một triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 11, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao đối với bị đơn là ông Nguyễn Thanh H.
Buộc ông Nguyễn Thanh H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C - Phòng giao dịch huyện Gò Quao số tiền là 33.958.376đ (ba mươi ba triệu chín trăm năm mươi tám nghìn ba trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó vốn gốc là 20.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 06/12/2019 là 13.958.376 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Thanh H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong khế ước vay vốn số 6000005800083905 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong khế ước vay vốn số 6000005800083905, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Nguyễn Thanh H phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Đình chỉ một phần yêu cầu của khởi kiện của Ngân hàng C - Phòng giao dịch Gò Quao đối với bà Châu Thị Th.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm là: 1.698.000đ (một triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn đồng), buộc ông Nguyễn Thanh H phải nộp.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 06/12/2019.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Gò Quao; - Chi cục THADS huyện Gò Quao; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (ĐÃ KÝ) Trần Hoài Thanh |