vanban.org

Bản án 43/2018/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C yêu cầu chị Võ Thị Thanh T phải trả khoản tiền vay gốc và lãi chưa thanh toán.

Buộc chị Võ Thị Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/10/2018 là 18.557.143 đồng, trong đó tiền gốc là 10.538.462 đồng, lãi trong hạn là 861.538 đồng, lãi quá hạn là 7.157.143 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Võ Thị Thanh T còn phải tiếp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngân hàng C yêu cầu chị Võ Thị Thanh T có nghĩa vụ trả tiền vay chưa thanh toán."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C yêu cầu chị Võ Thị Thanh T phải trả khoản tiền vay gốc và lãi chưa thanh toán.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/KDTM-ST
Ngày: 23/10/2018
“V/v: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Khổng Lan Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Cao Thị Chính

- Bà Đoàn Thị Thùy Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2018/TLST- KDTM ngày 12 tháng 7 năm 2018 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2018/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C

Trụ sở: đường D, phường G, Quận P, Tp. Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T - Chủ tịch HĐQT

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Đình T - Giám đốc Ngân hàng C – Chi nhánh B – Phòng giao dịch P.

(Theo văn bản ủy quyền số 899/QĐ-DAB-PC ngày 21/5/2016)

2. Bị đơn: Chị Võ Thị Thanh T, sinh năm 1978

Địa chỉ: Xóm 4, thôn T, xã M, thành phố Q, Bình Định.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn Ti, sinh năm 1977

Địa chỉ: Xóm 4, thôn T, xã M, thành phố Q, Bình Định.

Tại phiên tòa, anh Trần Đình T có mặt, chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn Ti có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 12 tháng 6 năm 2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Trần Đình T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng C trình bày:

Ngày 18/6/2014 Ngân hàng C – Chi nhánh B – Phòng giao dịch P (gọi tắt là Ngân hàng) có cho chị Võ Thị Thanh T vay 20.000.000 đồng theo giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ với lãi suất: 12%/năm, mục đích vay để kinh doanh; Thời hạn vay: 12 tháng; Trả góp vốn hàng tháng trong 11 tháng đầu là 2.000.000 đồng và tháng cuối trả 400.000 đồng; Tài sản bảo đảm: tín chấp. Tính đến ngày 19/11/2014, chị T đã trả cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 8.461.538 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.538.462 đồng) sau đó không tiếp tục trả gốc và lãi theo quy định, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo nợ và làm việc trực tiếp nhưng chị T vẫn không trả nợ đầy đủ. Trong quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 19/10/2018 chị T đã trả cho Ngân hàng 1.000.000 đồng tiền gốc. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng một lần toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền lãi tạm tính đến ngày 23/10/2018 là 18.557.143 đồng, trong đó tiền gốc là 10.538.462 đồng, lãi trong hạn là 861.538 đồng, lãi quá hạn là 7.157.143 đồng.

Tại bản khai ngày 31 tháng 7 năm 2018 bị đơn chị Võ Thị Thanh T trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày của anh T về việc chị có ký Giấy đề nghị vay vốn kiêm khế ước nhận nợ ngày 18/6/2014 với Ngân hàng C – Chi nhánh B – Phòng giao dịch P. Từ khi vay đến ngày 19/11/2014, chị đã trả cho Ngân hàng là 10.000.000 đồng (trong đó tiền gốc là 8.461.538 đồng, lãi trong hạn là 1.538.462 đồng). Hiện nay chị còn nợ Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 12/6/2018 là 18.796.628 đồng (trong đó tiền gốc là 11.538.462 đồng, tiền lãi trong hạn là 861.538 đồng, tiền lãi quá hạn là 6.396.628 đồng). Chị T đồng ý trả khoản nợ trên cho Ngân hàng nhưng hiện nay hoàn cảnh gia đình chị đang gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ, bản thân chị cũng không có việc làm nên xin được trả dần tiền gốc và lãi mỗi tháng 1.000.000 đồng, bắt đầu từ ngày 19/10/2018 cho đến khi hết nợ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Ti quá trình giải quyết vụ án Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh Nguyễn Văn Ti không đến Tòa làm việc nên không lấy được lời khai anh Ti. Anh Nguyễn Văn Ti có đơn xin xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- 2 -

- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử;

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72, 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C yêu cầu chị T phải trả tiền gốc, tiền lãi trong hạn và tiền lãi phạt quá hạn tính đến ngày 23/10/2018 là 18.557.143 đồng, trong đó tiền gốc: 10.538.462 đồng, lãi trong hạn: 861.538 đồng, lãi quá hạn: 7.157.143 đồng. Chị Võ Thị Thanh T chịu án phí kinh doanh thương mại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Ti đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng anh Ti không đến Tòa. Trước khi xét xử, Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ đối với chị T, anh Ti và chị T, anh Ti có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Võ Thị Thanh T và anh Nguyễn Văn Ti.

Về nội dung:

Theo Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 18/6/2014 chị Võ Thị Thanh T có vay Ngân hàng C – Chi nhánh B – Phòng giao dịch P (gọi tắt là Ngân hàng) 20.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 12%/năm. Từ khi vay cho đến ngày 19/11/2014, chị T đã trả cho Ngân hàng là 10.000.000 đồng trong đó tiền gốc là 8.461.538 đồng, lãi trong hạn là 1.538.462 đồng, sau đó chị T không thanh toán gốc và lãi theo quy định. Đến ngày 19/10/2018 chị T tiếp tục trả 1.000.000 đồng tiền gốc cho Ngân hàng. Tại phiên tòa hôm nay, anh Trần Đình T yêu cầu chị T trả một lần cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 23/10/2018 là 18.557.143 đồng, trong đó tiền gốc là 10.538.462 đồng, lãi trong hạn là 861.538 đồng, lãi quá hạn là 7.157.143 đồng.

- 3 -

Hội đồng xét xử xét thấy: Chị T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 5 mục phần cam kết của người vay của Giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ 18/6/2014 nên Ngân hàng yêu cầu chị T phải trả gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/10/2018 là 18.559.115 đồng (trong đó tiền gốc là 10.538.462 đồng, lãi trong hạn là 861.538 đồng đồng, lãi quá hạn là 7.159.115 đồng) là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét yêu cầu xin trả dần tiền gốc và lãi mỗi tháng 1.000.000 đồng của chị T không được anh Trần Đình T đồng ý và cũng không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Như vậy, chị Võ Thị Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/10/2018 là 18.557.143 đồng, trong đó tiền gốc là 10.538.462 đồng, lãi trong hạn là 861.538 đồng, lãi quá hạn là 7.157.143 đồng.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Ngân hàng C không phải chịu án phí nên được nhận lại số tiền đã nộp tạm ứng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Điều 147, Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của BLTTDS; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C yêu cầu chị Võ Thị Thanh T phải trả khoản tiền vay gốc và lãi chưa thanh toán.

2. Buộc chị Võ Thị Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/10/2018 là 18.557.143 đồng, trong đó tiền gốc là 10.538.462 đồng, lãi trong hạn là 861.538 đồng, lãi quá hạn là 7.157.143 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Võ Thị Thanh T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ

- 4 -

ngày 18/6/2014 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong giấy đăng ký vay tiền trả góp kiêm khế ước nhận nợ ngày 18/6/2014, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà chị Võ Thị Thanh T phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

3. Bác yêu cầu của chị Võ Thị Thanh T xin được trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng.

4. Về án phí:

- Chị Võ Thị Thanh T phải chịu 3.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

- Ngân hàng C không phải chịu. Hoàn lại cho Ngân hàng C 3.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009503 ngày 10 tháng 7 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Q.

5. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- VKSND thành phố Q;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Chi cục THADS thành phố Q;

- Đương sự;

- Lưu hồ sơ.

Khổng Lan Hƣơng

- 5 -

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Cao Thị Chính Đoàn Thị Thùy Châu

Khổng Lan Hƣơng

- 6 -

Cỡ chữ