- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A C phạm tội Bức Tử - phạm tội bức tử (điều 100 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A C (Vàng Nhịa H) phạm tội Bức tử.
- Căn cứ chính? Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 43/2018/HSST Ngày: 23/01/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S, TỈNH SƠN LA
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thôn; ông Vì Văn Đôi.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 01 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện S, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2017/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo sau đây:
Họ và tên: Vàng A C, tên gọi khác Vàng Nhịa H, sinh năm 1968; nơi ĐKHKTT: Bản Cang C, xã Huổi M, huyện S, tỉnh Sơn La; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; Chức vụ, đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 3/10; con ông: Vàng Sông H (đã chết); cong bà: Hờ Thị M (đã chết); bị cáo chung sống với 03 người vợ: Người thứ nhất: Giàng Thị K (đã bỏ); người thứ hai: Sồng Thị D, sinh năm 1975; người thứ ba: Lầu Thị L, tên gọi khác Lù Thị L (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2017 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác:
* Người bị hại:
1. Bà Lầu Thị L, sinh năm 1990 (đã chết). Trú tại: Bản Cang C, xã Huổi M, huyện S, tỉnh Sơn La.
2. Bà Sồng Thị D, sinh năm 1974. Trú tại: Bản Háng L, xã Mường C, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
* Người đại diện hợp pháp của người bị hại Lầu Thị L: bà Giàng Thị S (mẹ đẻ). Trú tại: Bản Tong C, xã Phiêng C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Vàng A Y, sinh năm 2010 (con đẻ bà Lầu Thị L và bị cáo). Người đại diện hợp pháp cho Vàng A Y: Bà Sùng Thị So N, sinh năm 1998 (con dâu bị cáo). Trú tại: Bản Cang C, xã Huổi M, huyện S. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi bỏ vợ trước, năm 1993 Vàng A C kết hôn với Sộng Thị D (có đăng ký kết hôn). Vợ chồng C - D có với nhau bốn người con, nay đều thành niên. Năm 2003, C nghi ngờ D ngoại tình với Và A L gây mâu thuẫn rồi bị Lại bắn bị thương. L bị xử phạt tù và phải bồi thường thiệt hại cho C 2.187.000 đồng. Thời gian này, do bị C hắt hủi, đánh đập nên D đã bỏ về sống với bố mẹ đẻ. Sau đó C phải sang xin lỗi vợ và họ ngoại và đón D về chung sống.
Đến năm 2009, C lấy thêm người vợ nữa là Lầu Thị L (không có hôn thú), C và L có một con chung.
C và hai người vợ sống chung một nhà, mọi quan hệ bên ngoài cũng như sinh hoạt, chi tiêu trong gia đình đều do C định đoạt. Vợ con làm trái ý là C quát nạt, đánh đập. Các con thành niên có góp ý về tính nết của bố, nhưng C không chịu nghe.
Những lần Vàng A C đánh đập vợ điển hình như sau:
- Đối với người vợ hợp pháp Sộng Thị D:
+ Lần Thứ nhất: Sau khi Và A L đi tù về, C đến gặp L đòi tiền bồi thường nhưng không được. Về nhà trút cơn tức giận lên người vợ, đó là vào khoảng 21 giờ của một ngày tháng 01 năm 2017, vừa quát mắng C vừa dùng cái que gỗ vụt nhiều nhát vào người vào chân vợ gây nhiều vết thâm tím.
+ Lần thứ hai: Sau lần đánh chửi khoảng mười ngày trong tháng 01 năm 2017, cũng từ cái cớ đòi tiền L không được thì tức vợ, khoảng 15 giờ ở trong nhà C dùng thanh sắt to bằng ngón tay vụt vào vợ nhiều nhát gây nên vết bầm tím.
+ Lần thứ ba: Do nghi ngờ D ngoại tình với chú em Vàng A T (em ruột C), C đã tra khảo D rồi cầm thanh gỗ dài khoảng 60 cm đánh D cho đến lúc D chạy thoát. Ngày hôm sau C lại tra khảo D, D sợ nên bỏ chạy vào rừng rồi hái một nắm nhỏ lá ngón nhưng không ăn ngay mà dấu trong người. Đến chiều D về nhà và đi vào giường nằm ngủ. C đi vào tra khảo tiếp và tát vào mặt D rồi đi ra, đến lúc này D lấy nắm lá ngón ra ăn và nằm tiếp. Hôm đó có vợ chồng người chị gái của Ch đến chơi, mọi người phát hiện ra D ăn lá ngón liền vội vàng đưa D đến Bệnh Viện cấp cứu, may mắn D không chết. Sau khi ra viện D bỏ về nhà ngoại cho đến nay.
- Đối với người vợ không hợp pháp Lầu Thị L: Cũng từ lý do nghi ngờ L ngoại tình, nên C hay tra khảo đánh đập.
+ Lần thứ nhất: Khoảng 18 giờ của một ngày tháng 5 năm 2017, vì tức L để cho con khóc nhiều, C đã tát L nhiều nhát, L phải van xin C mới chịu dừng.
+ Lần thứ hai: Cách lần bị đánh khoảng ba, bốn ngày, C thấy L đứng khóc gần cửa phía sau nhà, hỏi L không trả lời thì C cầm một đoạn gậy gỗ dài khoảng 50 cm đánh nhiều nhát vào người L, L vội bế lấy con chạy trốn vào rừng, rồi bỏ về bên quê ngoại. Hai ngày sau, tức là ngày 22/5/2017 L đến gặp Ban công an xã Huổi M trình báo về việc bị chồng đánh dã man. Ngày 03/6/2017 Vàng A C đến xin lỗi L và họ ngoại chịu nộp phạt theo tục lệ một triệu đồng rồi đón L về nhà.
+ Lần thứ ba: L cằn nhằn về việc C chịu nộp phạt cho họ ngoại một triệu đồng, hai bên cãi cọ nhau, C tức khí cầm ngay que củi đang cháy trong bếp, dụi bên cháy vào đống tro rồi vụt liên tiếp vào đùi, vào chân L, L bỏ chạy, C bỏ tiếp que củi vào bếp. Tối đến, tại buồng ngủ vợ chồng lại nói nhau, C tức vả nhiều nhát vào mặt L.
Sáng ngày 08/6/2017, Lầu Thị L kể việc bị C đánh cho Vàng Thị H (con gái C - D) và thể hiện sự buồn chán, tiêu cực. Tiếp đó H thấy Lia nôn mửa rồi biết L đã uống thuộc diệt cỏ để tự tử. Cả nhà có trông nom L, thấy L không đỡ đến trưa ngày 09/6/2017 đưa L đến Bệnh Viện huyện S cữu chữa, nhưng đến chiều ngày 10/6/2017 lại tự ý đưa L về nhà. Ở nhà thấy thể trạng L trầm trọng thêm gia đình lại đưa L đến Bệnh Viện ngày 12/6/2017, BệnhViện trả lời không còn cứu chữa được khuyên đưa về nhà lo hậu sự. Về đến nhà khoảng 08 giờ ngày 14/6/2017 thì L chết.
Kết quả khám nghiệm tử thi: Tử thi được xác định là Lầu Thị L (Lù Thị La, sinh năm 1990 trú tại bản Cang C, Huổi M, huyện S. Ngoài mặc áo phông dài tay kẻ ngang trắng đen, mặc quần vải màu đen kiểu dân tộc Mông, trong mặc quần xóoc màu đen.
- Khám ngoài:
+ Mặt: Vùng trán phải có 01 đám sưng nề, bầm tím kích thước 4 x 2,5cm; gò má phải có 01 đám bầm tím kich thước 4,2 x 2,5cm; vùng trán trái có 01 vết xây xước da đang đóng vẩy kích thước 1 x 0,5cm; toàn bộ gò má trái có 01 đám sưng nề, bầm tím kích thước 8,5 x 6,5cm; sống mũi có 01 vết xây xước da kích thước 3 x 1cm; xương hàm phải có 01 đám bầm tím kích thước 3 x 2,5cm; môi trên bên trái có 01 vết xây xước đang đóng vẩy kích thước 01 x 0,5cm; dưới cằm bên phải có 01 vết bầm tím kích thước 02 x 1,5cm.
+ Ngực: Ngực phải có 01 vết bầm tím đường kính 02cm.
+ Tay: Toàn bộ mặt sau ngoài cánh tay phải có 01 đám bầm tím kích thước 18 x 11cm; mặt sau khửu tay phải có 01 đám bầm tím kích thước 4 x3cm; toàn bộ mu bàn tay phải bầm tím kích thước 9 x 6cm; toàn bộ mặt sau ngoài 1/3 giữa cánh tay trái kéo dài xuống khửu tay có đám bầm tím kích thước 18 x 13cm; mặt trước cẳng tay trái có 01 đám bầm tím kích thước 11 x 6cm; mặt sau cẳng tay trái có 01 vết bầm tím kích thước 17 x 0,7cm; toàn bộ mu bàn tay trái bầm tím kích thước 9 x 6cm.
+ Chân: mặt trước ngoài đùi phải kéo dài xuống gối phải có 01 đám xưng nề, bầm tím kích thước 28 x 13cm; toàn bộ cẳng chân phải bầm tím kích thước 30 x 25cm; toàn bộ đùi trái sưng nề, bầm tím; toàn bộ cẳng chân trái kéo dài xuống bàn chân sưng nề, bầm tím.
+ Mông: Toàn bộ mông trái bầm tím.
- Giải phẫu tử thi: Mổ lồng ngực thấy hai phổi xẹp, sung huyết màu tím đen, bề mặt phổi trái có nhiều đám xuất huyết màu đỏ, rạch phổi kiểm tra trong nhu mô phổi có nhiều dịch máu màu đen.
Tim: Trong khoang màng tim có ít dịch màu vàng chanh, bề mặt 02 thất có nhiều chấm xuất huyết rải rác đường kính trung bình 0,05cm.
Gan: Bề mặt màu vàng, mất tính nhẵn bóng, gan cứng, chắc.
Dạ dày: Trong dạ dày chứa khoảng 100gam thức ăn đã nhuyễn, niêm mạc dạ dày xung huyết.
Bản kết luận giám định hóa pháp số 243/213/273-274/17/HP ngày 26/6/2017 của Viện pháp y quốc gia Bộ Y tế, kết luận: Trong mẫu tang vật, mẫu máu và phủ tạng của nạn nhân Lầu Thị L (tên gọi khác: Lù Thị L), sinh năm 1990 do Cơ quan CSĐT Công an huyện Sô, tỉnh Sơn La gửi tới giám định ngày 16/6/2017 có tìm thấy thuốc trừ cỏ Paraquat.
Bản kết luận giám định pháp y về mô bệnh học số 84/17/MBH ngày 20/6/2017 của Viện pháp y quốc gia Bộ Y tế, kết luận:
+ Tim: Phù, sung huyết, chảy máu. Nhiều bó sợi cơ tim đứt đoạn.
+ Phổi: Phù, sung huyết, chảy máu, hình ảnh dị vật trong lòng mạch, biểu mô phế quản bong tróc, vách phế nang rách, đứt.
+ Gan: Sung huyết.
+ Thận: Phù, sung huyết.
Bản kết luận giám định giám định pháp y về tử thi số 81/KLMT ngày 02/8/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Sơn La tỉnh Sơn La, kết luận:
+ Khám ngoài: Toàn bộ trên cơ thể có nhiều vết sây xước và nhiều đám bầm tím trên diện rộng.
+ Khám trong: Tim, hai phổi xẹp, xung huyết; Gan bề mặt màu vàng, mất tính nhẵn bóng, gan cứng nhắc; Niêm mạc dạ dày xung huyết.
+ Cận lâm sàng:Tim phù, xung huyết, chảy máu, nhiều bó sợi cơ tim đứt đoạn; Phổi phù, xung huyết, chảy máu, hình ảnh dị vật trong lòng mạch, biểu mô phế quản bong tróc, vách phế nang rách đứt; Gan xung huyết; Thận phù, xung huyết. Trong mẫu phủ tạng gửi giám định có tìm thấy thuốc trừ cỏ Paraquat.
+ Nguyên nhân chết: Ngộ độc thuốc trừ cỏ Paraquat là nguyên nhân gây tử vong.
Ngày 12/7/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện S ra Quyết định trưng cầu giám định Trung tâm pháp Y tỉnh Sơn La, giám định: Tổn hại phần trăm sức khỏe đối với Sồng Thị D, đồng thời ngày 08/8/2017 Sồng Thị D có đơn đề nghị khởi tố Vàng A C về tội Cố ý gây thương tích cho D.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 85/TgT ngày 17/7/2017 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh Sơn La kết luận đối với Sồng Thị D: Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt, chân, số lượng ít, kích thước nhỏ, xếp 2%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 2%.
Sồng Thị D yêu cầu bồi thường sức khoẻ 2.000.000 đồng.
Bà Giàng Thị S (mẹ đẻ Lầu Thị L) yêu cầu Vàng A C bồi thường tiền đau thương 30.000.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 118/KSĐT-MT ngày 06 tháng 10 năm 2017 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện S truy tố Vàng A C (Vàng Nhịa H) về tội: Bức tử, theo khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 100, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm a khoản 2 Điều 130, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm tù. Về dân sự: Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ theo quy định; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện, chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, bị cáo; người bị hại cùng các chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vàng A C mang tính gia trưởng, vũ phu, tự cho mình là người có quyền hành trong gia đình, thường xuyên kiếm cớ để chửi mắng rồi đánh đập vợ. Do không chịu được sự tàn bạo của chồng, hai người vợ đều ăn lá ngón, uống thuốc diệt cỏ để tự tử. Người vợ có hôn thú may mắn được cứu chữa kịp thời thoát chết, còn người vợ không có hôn thú đã tử vong.
Xét thấy Vàng A C đã đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp đánh đập hai người vợ (những người chịu lệ thuộc C) làm cho cả hai người vợ quá tiêu cực mà tự sát là hành vi phạm tội "Bức tử". Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Vàng A C phạm tội "Bức tử", theo khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự (làm nhiều người tự sát).
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, chưa có tiền án tiền sự, thành thật khai báo và tỏ ra ăn năn hối hận. Nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu (sử dụng ma tuý), bất chấp sự khuyên răn của gia đình và cộng đồng, thực hiện hành vi bạo lực gia đình kéo dài. Do vậy, bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ và phải bị phạt tù nghiêm khắc nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước ngày Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực, khi xét xử thì Bộ luật hình sự 2015 đã có hiệu lực thi hành. So sánh tội "Bức tử" của hai Bộ luật (BLHS năm 1999) và (BLHS năm 2015) thì đều có khung hình phạt như nhau (tức không có lợi cho người phạm tội). Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự của Bộ luật hình sự năm 1999 để giải quyết, xét xử đối với bị cáo.
Về dân sự: Người bị hại và đại diện người bị hại có đơn yêu cầu được bồi thường thiệt hại về sức khoẻ và tiền đau thương. Xét thấy người bị hại đương nhiên là vợ bị cáo mức đòi bồi thường không đáng kể và không có cơ sở; đối với mẹ vợ bị cáo đòi bồi thường cũng không có cơ sở, vì thực tế đã cho con đi ở riêng lâu năm, việc Lầu Thị Lia chết nằm ngoài ý muốn của bị cáo. Hơn nữa bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và còn phải nuôi con nhỏ. Bên cạnh đó, tại phiên toà người bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại rút toàn bộ yêu cầu bồi thường. Vì vậy, việc yêu cầu bồi thường không đặt ra.
Tang vật của vụ án gồm: 02 can nhựa màu trắng, loại 4,5 lít, bên trong can chứa chất dung dịch màu xanh; 01 đoạn gậy gỗ; 02 đoạn tre và 02 mảnh sứ màu trắng có hoa văn màu hồng đều là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng tịch thu để sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vàng A C (Vàng Nhịa H) phạm tội Bức tử.
Áp dụng khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt: Vàng A C (Vàng Nhịa H) 06 (Sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày (14/6/2017).
2. Vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu để tiêu huỷ:
+ 02 (hai) can nhựa màu trắng hình chữ nhật, loại 4,5 lít, có quai xách, nắp can màu vàng, một mặt can có dán tem ghi dòng chữ thuốc trừ cỏ EXUMA 210SL, hiệu Đại bàng lửa, mặt can còn lại dán tem ghi hướng dẫn sử dụng, bên trong can chứa dung dịch màu xanh, 01 can đã mở nắp và 01 can chưa mở nắp.
+ 01 (một) đoạn gậy gỗ đã khô, dài 50cm, đầu gậy to hơn có đường kính 02cm, đầu gậy nhỏ hơn có đường kính 1,8cm, có vết gẫy không dời ở giữa.
+ 02 (hai) đoạn tre trong đó 01 đoạn dài 1,70m đường kính 5,5cm, đầu ngọn bị cháy sém, đầu gốc có 01 chiếc đinh loại 10cm đóng xuyên qua, hai đầu đoạn tre được cắt bằng; 01 đoạn tre có chiều dài 90cm, đường kính 04cm, hai đầu chặt nham nhở.
+ 02 (hai) mảnh sứ màu trắng có hoa văn màu hồng.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Mười nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện S, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Bị cáo; người bị hại; người đại diện hợp pháp người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Toà án tỉnh; -VKS huyện; -Thi hành án hình sự; -Thi hành án dân sự; -Bị cáo; -Người có QL,NVLQ; -Sở tư pháp tỉnh; -Lưu HS; -Lưu VP. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết Các hội thẩm nhân dân: Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 BLTTHS; Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2017. đối với vụ án: Vàng A Chư – bị truy tố: Bức tử. sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo; Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết như sau: biểu quyết 3/3. Nhất trí. phạt: Vàng A Chư 14/6/2017). Kết quả biểu quyết 3/3. Nhất trí. quả biểu quyết 3/3 nhất trí. khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. - Tịch thu để tiêu huỷ: nắp can màu vàng, một mặt can có dán tem ghi dòng chữ thuốc trừ cỏ EXUMA 210SL, hiệu Đại bàng lửa, mặt can còn lại dán tem ghi hướng dẫn sử dụng, bên trong can chứa dung dịch màu xanh, 01 can đã mở nắp và 01 can chưa mở nắp. 02cm, đầu gậy nhỏ hơn có đường kính 1,8cm, có vết gẫy không dời ở giữa. ngọn bị cháy sém, đầu gốc có 01 chiếc đinh loại 10cm đóng xuyên qua, hai đầu đoạn tre được cắt bằng; 01 đoạn tre có chiều dài 90cm, đường kính 04cm, hai đầu chặt nham nhở. 4. 02 (hai) mảnh sứ màu trắng có hoa văn màu hồng. (Mười nghìn đồng). hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La). 5. Về dân sự: Không đặt ra. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - Chủ toạ PT | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lƣờng Văn Quyết CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Tại phòng nghị án Hội đồng xét xử hình sự sơ thẩm đã tiến hành nghị án Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A Chư phạm tội Bức Tử. Kết quả 2. Về Điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự. Xử năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 3. Về hình phạt bổ sung: Miễn phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Kết 4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; 1. 02 (hai) can nhựa màu trắng hình chữ nhật, loại 4,5 lít, có quai xách, 2. 01 (một) đoạn gậy gỗ đã khô, dài 50cm, đầu gậy to hơn có đường kính 3. 02 (hai) đoạn tre trong đó 01 đoạn dài 1,70m đường kính 5,5cm, đầu - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/10/2017 của Chi cục thi 6. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, các Điều 21, 23 Hội thẩm nhân dân |