vanban.org

Bản án 43/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 20/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Tống Quang C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm

dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 2 điều 175; điểm s Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tống Quang C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm
  • Căn cứ chính? luật tố tụng hình sự và Nghị; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự

Số: 43/2018/HSST

Ngày: 20/11/2018

T A ÁN NHÂN DÂN CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM HUY N LƯƠNG SƠN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VI T NAM T A ÁN NHÂN DÂN HUY N LƯƠNG SƠN, TỈNH H A BÌNH - Thành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán – Chủ t a phiên tòa: à Hoàng Thị Lan Các Hội thẩ nhân dân: à Phan Thị Thu à Hoàng Thị Tám Thư ký ghi biên bản phiên tòa: à Lê Thị Thanh Thảo – Th ký Tòa án nhân dân huyện L ơng Sơn, tỉnh Hòa ình. Đại diện Viện kiể sát nhân dân huyện Lương Sơn tha gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên. Ng y 20 tháng 11 năm 2018, tại Trụ s Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2018/TLST- HS ng y 11 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 43/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Tống Quang C. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 01/3/1991; HKTT: Tổ 3, xã Đ, thị trấn X, huyện Ch ơng Mỹ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12. ố đẻ: Tống Văn D, sinh năm 1968, Mẹ đẻ: Trần Thị H, sinh năm 1967; Vợ, con: ch a có, Gia đình có 03 chị em, bị can là con thứ hai trong gia đình. Tiền sự: không Tiền án: 04 tiền án; + ản án số 101/2009/HSST ngày 29/09/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ch ơng Mỹ áp dụng khoản 1 Điều 137, Điều 60 LHS xử phạt 18 tháng tù nh ng cho h ởng án treo thời gian thử thách là 33 tháng 16 ngày về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. + ản án số 84/2010/HSST ngày 23/09/2010 của Tòa án nhân dân huyện Ch ơng Mỹ, Hà Nội áp dụng khoản 1 Điều 140 LHS xử phạt 18 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của ản án số 101/2009/HSST ngày 29/09/2009 của Tòa án nhân dân huyện Ch ơng Mỹ. ị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 34 tháng 23 ngày tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. + ản án số 102/2012/HSST ngày 18/08/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ch ơng Mỹ, Hà Nội áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138 xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

+ ản án số 140/2012/HSST ngày 28/09/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ch ơng Mỹ, Hà Nội áp dụng điểm c khoản 2 Điều 139 xử phạt 36 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với hình phạt của bản án 102/2012/HSST ngày 18/08/2012 của Tòa án nhân dân huyện Ch ơng Mỹ, Hà Nội. ị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 66 tháng tù. ị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/6/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa. - Bị hại: 1.Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974, HKTT: thôn C, xã H, huyện L ơng Sơn, tỉnh Hòa ình. Vắng mặt 2. Chị Nguyễn Thanh V, sinh năm 1976 Trú tại: xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1999, HKTT: xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội. Vắng mặt 2. Anh V ơng Văn D, sinh năm 1983, Trú tại: xã , huyện T, thành phố Hà Nội. Vắng mặt - Người là chứng: + Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1994, HKTT: thôn C, xã H, huyện L ơng Sơn, tỉnh Hòa ình. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau: Tống Quang C, SN: 1991, HKTT: xã Đ, thị trấn X, huyện Ch ơng Mỹ, Hà Nội đến nhà anh Nguyễn Văn D, SN: 1974 tại thôn C, xã H, L ơng Sơn, Hòa ình để sửa nhà. Nguyễn Văn D giao cho Tống Quang C 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter để đi lại mua vật liệu phục vụ cho việc sửa nhà (Chiếc xe trên thuộc quyền sở hữu của anh Hoàng Văn Đ, trú tại: xã P, huyện Q, thành phố Hà Nội. Đ có gửi và giao xe cho anh D quản lý, sử dụng). Tối ngày 12/06/2018 C ngủ lại ở phòng khách nhà anh D. Đến khoảng 5 giờ sáng ngày 13/06/2018 C tỉnh dậy, quan sát trên bàn uống n ớc có 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ hiệu rolex và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. C ờng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trên nên đã cầm chiếc đồng hồ và tờ tiền cho vào túi quần bên phải phía tr ớc. Sau đó, C ờng tiếp tục đi ngủ, đến khoảng 7 giờ 00 cùng ngày, C tỉnh dậy thì gặp chị Nguyễn Thanh V, SN: 1976, HKTT: xã V, huyện Đ, Hà Nội (là em gái anh D), C nói với chị V là gọi anh D dậy mở cổng để C lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter đi ra ngoài. Một lúc sau thì chị Đỗ Thị H, SN: 1994, là vợ của anh D đi ra mở cổng. Tống Quang C nói với chị H là đi xuống thị trấn Xuân Mai, Ch ơng Mỹ, Hà Nội vay tiền, trả nợ cho anh D. Vì tr ớc đó đã nhiều lần thấy C điều khiển chiếc xe trên đi mua vật liệu sửa nhà nên chị H đồng ý. Khi xuống đến thị trấn Xuân Mai, Ch ơng Mỹ, Hà Nội do không vay đ ợc tiền nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên. Khi đi đến cầu a Thá thuộc xã P, huyện M, Hà Nội thì gặp một ng ời đàn ông tên là V. C đặt

vấn đề cầm cố chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter với giá 10.000.000 đồng. C nói với V có giấy đăng ký xe theo quy định nh ng không mang theo. V đồng ý. Sau đó, C đi taxi lên Thạch Thất, Hà Nội chơi. Đến ngày 17/06/2018 C đến cửa hàng điện thoại của anh V ơng Văn D, SN: 1983, HKTT: Yên Mỹ, ình Yên, Thạch Thất, Hà Nội cầm cố chiếc đồng hồ mà C lấy trộm tại nhà anh D cùng chiếc điện thoại của C hiệu Samsung Galaxy Note 8 do Trung quốc sản xuất, lấy số tiền 1.500.000 đồng. Đến ngày 20/06/2018 Tống Quang C đến Cơ quan CSĐT Công an huyện L ơng Sơn đầu thú. Ngày 27/06/2018 Hội đồng định giá tài sản huyện L ơng Sơn kết luận 01 (một) chiếc đồng hồ màu vàng nhạt, d ới mặt kính có dòng chữ ROLEX, xung quanh đồng hồ và một phần dây đeo có gắn các viên dạng đá có giá trị là 260.000 đồng (Hai tră sáu ươi nghìn đồng). Ngày 13/08/2018 Hội đồng định giá tài sản huyện L ơng Sơn kết luận 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter màu xám xanh, KS: 29V7 – 351.96; Số khung: RLCUG0610HY554341; Số máy: G3D4E578966 xe đã qua sử dụng có giá trị là 31.000.000 đồng (Ba ươi ốt triệu đồng). Vật chứng vụ án: - 01 (một) chiếc đồng hồ màu vàng nhạt, d ới mặt kính có dòng chữ ROLEX, xung quanh đồng hồ và một phần dây đeo có gắn các viên dạng đá của chị Nguyễn Thanh V. Cơ quan CSĐT Công an huyện L ơng Sơn đã thu giữ, ch a trả cho bị hại. - 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Exciter màu xám xanh, KS: 29V7 – 351.96; Số khung: RLCUG0610HY554341; Số máy: G3D4E578966 của anh Hoàng Văn Đ, ch a thu giữ đ ợc. - Tiền ngân hàng nhà n ớc Việt Nam 50.000 đồng của anh Nguyễn Văn D, ch a thu giữ đ ợc. - 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 do Trung Quốc sản xuất của Tống Quang C. Cơ quan CSĐT Công an huyện L ơng Sơn đã thu giữ. Cáo trạng số 43/CT-VKSLS ngày 10/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện L ơng Sơn truy tố bị cáo Tống Quang C về tội “trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 và điểm a khoản 1 điều 175 của ộ luật hình sự. ị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh trong nội dung bản cáo trạng, khẳng định lời khai tr ớc cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều tự nguyện, không bị ép cung, mớm cung hoặc bị nhục hình. Hội đồng xét xử công bố lời khai tại cơ quan điều tra của những ng ời vắng mặt: các bị hại, ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ng ời làm chứng. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L ơng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 điều 173 LHS và thay đổi truy tố bị cáo về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định điểm g khoản 2 điều 175 ộ luật hình sự với tình tiết định khung là “tái phạm nguy hiểm”. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tống Quang C phạm tội: Trộm cắp tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiến đoạt tài sản. Áp dụng điểm b khoản 1 điều 173, điểm g

khoản 2 điều 175, điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 38, điều 55 bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Tống Quang C mức án từ 01năm đến 01 năm 6 tháng tù về tội trộm cắp tài sản và mức án từ 3 năm đến 4 năm tù về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc Tống Quang C chấp hành hình phạt chung từ 4 năm đến 5 năm 6 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 LHS; Điều 584; Điều 585; Điều 589 LDS đề nghị HĐXX tuyên: + ị cáo Tống Quang C phải bồi th ờng cho anh Hoàng Văn Đ số tiền 31.000.000 đồng là giá trị tài sản chiếc xe máy Exciter đã qua định giá. ị cáo C phải hoàn trả cho anh D số tiền 50.000 đồng là số tiền mà C đã lấy trộm tại nhà anh D. + Tống Quang C phải bồi th ờng cho anh V ơng Văn D số tiền 1.500.000 đồng là số tiền mà C đã cắm chiếc đồng hồ lấy trộm và điện thoại của mình cho anh D. Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 LHS, điều 106 ộ luật tố tụng hình sự, - Trả lại cho chị Nguyễn Thanh V 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay màu vàng nhạt, d ới mặt kính có dòng chữ ROLEX, xung quanh đồng hồ và một phần dây đeo có gắn các viên dạng đá. - Trả lại cho bị cáo Tống Quang C 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 do Trung Quốc sản xuất. Tuy nhiên, cũng cần phải tiếp tục bảo thủ để đảm bảo thi hành án. NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN: Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau: [1]Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L ơng Sơn, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện L ơng Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của ộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những ng ời tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật. [2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo C hoàn toàn phù hợp với lời khai của ng ời bị hại, ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ng ời làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đ ợc thẩm tra tại phiên tòa. Các tài liệu chứng cứ đó là: iên bản về nguồn tố giác tội phạm, biên bản thu giữ vật chứng, kết quả định giá tài sản, biên bản thực nghiệm hiện tr ờng, sơ đồ hiện tr ờng, bản ảnh hiện tr ờng, đơn xin đầu thú, đủ căn cứ kết luận: Khoảng 5 giờ ngày 13/6/2018 Tống Quang C có hành vi lén lút lấy 01 chiếc đồng hồ đeo tay nữ hiệu rolex của em gái anh D là chị Nguyễn Thanh V, trú tại: Việt Hùng, Đông Anh, Hà Nội và tờ tiền mệnh giá 50.000đồng của anh D. Đến khoảng 7 giờ sáng cùng ngày, C m ợn chiếc xe mô tô nhãn hiệu yamaha Exciter (mà tr ớc đó anh D đã giao cho C sử dụng để lấy vật

liệu, chiếc xe trên là của Hoàng Văn Đ gửi tại nhà anh D, Đ giao cho D quản lý, sử dụng) đi Thị trấn X, huyện C, Hà Nội. Sau đó, C điều khiển xe đến khu vực a Thá thuộc xã P, huyện M, Hà Nội cầm cố cho một ng ời đàn ông tên V lấy số tiền 10.000.000đồng. Đến ngày 17/6/2018 C lại cắm ký tiếp chiếc đồng hồ nữ của chị V và 01 điện thoại di động của C đ ợc 1.500.000đồng cho anh V ơng Văn D, tại xóm Y, xã , huyện T, Hà Nội. Số tiền trên C ăn tiêu hết. Viện kiểm sát nhân dân huyện L ơng Sơn truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 điều 173 LHS là phù hợp và truy tố bị cáo về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 175 LHS là ch a phù hợp. ởi lẽ, bị cáo có nhân thân xấu, có 04 tiền án ch a đ ợc xóa án tích về nhóm tội sở hữu, lần phạm tội này của bị cáo thuộc tr ờng hợp tình tiết định khung tăng nặng “ tái phạm nguy hiểm”. Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện L ơng sơn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo C về tội trộm cắp tài sản theo điểm b khoản 1 điều 173 LHS và thay đổi truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 điều 175 LHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của ng ời khác đ ợc pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi th ờng pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội. ị cáo C tuổi đời còn trẻ, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức đ ợc việc lấy tài sản của ng ời khác là trái pháp luật nh ng do ham chơi, l ời lao động. ị cáo có nhân thân xấu, có 04 tiền án nh ng không lấy đó làm bài học, tu d ỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý bị cáo hình phạt nghiêm khắc, t ơng xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đến cơ quan công đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ đ ợc quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51 bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về hình phạt bổ sung: ị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. [4] Đối với anh V ơng Văn D là ng ời đã nhận cầm cố chiếc đồng hồ mà C lấy trộm đ ợc cùng với chiếc điện thoại của C. Do D không biết chiếc đồng hồ là tài sản do phạm tội mà có. Hành vi của anh D không đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự nên cơ quan công an không đề cập xử lý hình sự là có căn cứ. Đối với đối t ợng cầm cố chiếc xe máy Exciter cho bị can Tống Quang C tên là V ở xã P, huyện M, Hà Nội. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nh ng ch a xác định đ ợc. Cơ quan CSĐT Công an huyện L ơng Sơn tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. [5] Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Hoàng Văn Đ và anh Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo phải bồi th ờng cho anh Hoàng Văn Đ số tiền t ơng đ ơng với giá trị chiếc xe bị mất, qua định giá là 31.000.000đồng và trả lại anh Nguyễn Văn D số tiền 50.000đồng. Xét, hành vi của bị cáo C đã xâm phạm đến tài sản của anh Đ, hiện chiếc xe ch a thu hồi đ ợc nên cần buộc bị cáo Tống Quang C phải bồi th ờng cho anh Hoàng Văn Đ số tiền 31.000.000 đồng là giá trị chiếc xe mô tô Yamaha Exciter đã qua định giá, trả cho anh Nguyễn Văn D số tiền 50.000 đồng là số tiền mà C đã lấy trộm tại nhà anh D. - Anh V ơng Văn D yêu cầu bị cáo C phải hoàn trả lại anh số tiền 1.500.000đồng là số tiền D đã mua chiếc đồng hồ đeo tay và 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 do Trung Quốc sản xuất của bị cáo C. Xét, khi mua tài sản trên D hoàn toàn không biết tài sản do phạm tội mà có, cơ quan công an đã thu hồi. Vì vậy, cần buộc Tống Quang C phải bồi th ờng cho anh V ơng Văn D số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật. Về xử lý vật chứng: - ị hại chị Nguyễn Thanh V yêu cầu bị cáo trả lại 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay màu vàng nhạt, d ới mặt kính có dòng chữ ROLEX, xung quanh đồng hồ và một phần dây đeo có gắn các viên dạng đá. Xét chiếc đồng hồ trên thuộc quyền sở hữu của chị V nên cần trả lại cho chị Nguyễn Thanh V. - Ngoài ra, cơ quan công an còn thu giữ của bị cáo Tống Quang C 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 do Trung Quốc sản xuất. Xét đây là tài sản của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo C. Tuy nhiên, cũng cần phải tiếp tục bảo thủ để đảm bảo thi hành án. [6] Về án phí: ị cáo phải chịu án phí theo quy định theo điều 135, 136 ộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/U TVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an th ờng vụ Quốc Hội. V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Tống Quang C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. 2. Áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 2 điều 175; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điều 38, điều 55 ộ luật hình sự. 3. Xử phạt bị cáo Tống Quang C 01 ( một ) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. uộc bị cáo Tống Quang C phải chấp hành tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 04 ( ốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/6/2018. 4. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 LHS; Điều 584; Điều 585; Điều 589 LDS, buộc: ị cáo Tống Quang C phải bồi th ờng cho anh Hoàng Văn Đ số tiền 31.000.000 đồng (ba ươi ốt triệu đồng) và hoàn trả cho anh Nguyễn Văn D số tiền 50.000 đồng (nă ươi nghìn đồng). ị cáo Tống Quang C phải bồi th ờng cho anh V ơng Văn D số tiền 1.500.000 đồng ( ột triệu nă tră nghìn đồng). Kể từ ng y người được thi h nh có đơn yêu cầu thi h nh án nếu người phải thi h nh án chậm thi h nh số tiền trên thì h ng tháng còn phải chịu khoản

tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi h nh theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự. Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy đinh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 LHS; Điều 106 LTTHS: - Trả 01 (một) chiếc đồng hồ đeo tay màu vàng nhạt, d ới mặt kính có dòng chữ ROLEX, xung quanh đồng hồ và một phần dây đeo có gắn các viên dạng đá cho chị Nguyễn Thanh V. - Trả lại cho bị cáo Tống Quang C 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 (do Trung Quốc sản xuất). Tiếp tục bảo thủ 01 (một) chiếc điện thoại Samsung Galaxy Note 8 (do Trung Quốc sản xuất) trên để đảm bảo thi hành án. (Các vật chứng trên hiện đang l u giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện L ơng Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2018 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L ơng Sơn và chi cục thi hành án dân sự huyện L ơng Sơn, tỉnh Hòa ình). 3.Về án phí: áp dụng điều 135, 136 bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/U TVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. ị cáo Tống Quang C phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.620.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: ị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. ị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án. Ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án. Nơi nh n: T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND T. Hòa ình; Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa - VKSND tỉnh Hòa ình - VKSND H. L ơng Sơn; - CA H. L ơng Sơn; - Chi cục THADS H. L ơng Sơn; - ị cáo, đ ơng sự; - L u hồ sơ vụ án. Hoàng Thị Lan

Cỡ chữ