- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Trung H, Lê Ngọc D pham tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2018/HS-ST Ngày 28/9/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Tấn.
2. Ông Trương Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2018 tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:
LƢƠNG TRUNG H, sinh ngày 22/5/1993 tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Tổ 08, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Công T và bà Ngô Thị Kim A; Vợ con chưa có; Tiền sự: Ngày 24/4/2018 bị Công an phường T, thành phố Quảng Ngãi xử phạt hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
LÊ NGỌC D (tên gọi khác D), sinh ngày 30/11/1972 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ 07, phường Q, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê M (chết) và bà Đoàn Thị T; Có vợ Nguyễn Thị N và 03 con: lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 24/4/2018 bị UBND phường Q áp dụng biện pháp giáo dục tại phường; Nhân thân: Ngày 16/01/1992 bị Tòa phúc thẩm TAND Tối Cao tại Đà Nẵng xử 4 năm tù về tội Trộm cắp tài sản đến ngày 13/11/1996 chấp hành xong hình phạt; Ngày 24/1/2002 bị TAND tỉnh Q xử phạt 30 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đến ngày 15/11/2003 chấp hành xong hình phạt. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2018; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Chị Nguyễn Khánh L, sinh năm 1996.
Trú tại: 980/26 đường Q, tổ 18, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Cao Quang P, Sinh năm: 1975;
Trú tại: Tổ 12, phường N, TP. Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
2. Bà Ngô Thị Kim A, sinh năm 1960.
Trú tại: Tổ 8, phường T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 10/6/2018, Lương Trung H điều khiển xe môt tô hiệu Honda SH, màu đỏ đen, BKS 76B1-211.95 đi uống thuốc Methadone thì gặp Lê Ngọc D đang đi xe đạp trên đường Q, thành phố Q. Lương Trung H nói chuyện với D, sau đó H có rủ D đi trộm cắp tài sản để kiếm tiền mua ma túy sử dụng thì Lê Ngọc D đồng ý. Lê Ngọc D gửi xe đạp gần trại hòm Tân Bé, H điều khiển xe mô tô BKS 76B1-211.95 chở D đi trên đường Q, sau đó rẽ vào hẻm 980 Q, đi được một đoạn rồi rẽ trái vào một hẻm nhỏ. Khi đi ngang qua nhà chị Nguyễn Khánh L thì phát hiện nhà chị L có cửa cổng khép không khóa, cửa chính nhà mở. Lúc này, H điều khiển xe quay lại và dừng trước cổng nhà chị L, D xuống xe đi vào trong nhà thì phát hiện 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro V130, core i3, màu xám để bên bàn phòng khách, D lấy máy tính lận vào bên trong áo đang mặc trước bụng rồi đi ra ngoài và lên xe H chở tẩu thoát. Sau khi trộm cắp tài sản, H và D mang máy tính trộm cắp được đến tiệm sửa chữa điện thoại Minh Phúc trên đường Q bán cho anh Cao Quang P với giá 700.000 đồng. D và H đã dùng hết số tiền 700.000 đồng để mua ma túy sử dụng.
Ngày 15/6/2018, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Quảng Ngãi, đã tiến hành định giá và kết luận: 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro V130 core i3, màu xám trị giá 3.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số: 52/CT-VKS ngày 27 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi truy tố Lương Trung H, Lê Ngọc D về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, i, b khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Lương Trung H từ 6 đến 9 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Ngọc D từ 12 đến 18 tháng tù.
Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu tỏng hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Quảng Ngãi, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục, qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và tại phiên tòa các bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa các bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D đều khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 10/6/2018 bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D đi đến số nhà 980/26 đường Q, phường C, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu Dell Vostro V130 core i3 của chị Nguyễn Khánh L đem bán được 700.000 đồng để mua ma túy sử dụng. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: máy tính xách tay hiệu Dell Vostro V130 core i3 trị giá 3.500.000 đồng, Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu được và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận các bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D phạm tội: Trộm cắp tài sản, qui định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định hình phạt:
Các bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D đều là những người nghiệm ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Các bị cáo phạm tội không có tổ chức, chỉ đồng phạm giản đơn. Bị cáo Lương Trung H là người đề xướng và rủ bị cáo D trộm cắp, bị cáo H ngày 24/2/2018 đã bị công an phường xử phạt tiền về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện sửa chữa bản thân mà còn phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tác động gia đình hoàn trả lại cho anh Cao Quang P số tiền mà anh P bỏ ra mua máy tính xách tay và máy tính đã được cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho chủ sở hữu và bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản mà bị cáo bán cho anh P để trả lại cho chủ sở hữu nên bị cáo chỉ trả lại số tiền mà bị cáo bán tài sản trộm cắp cho anh P nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nhưng Viện kiểm sát đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo chưa phù hợp với hành vi cũng như nhân thân của bị cáo, do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc để có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Đối với Lê Ngọc D có nhân thân không tốt, ngày 16/1/1992 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao tại Đà Nẵng xử phạt 4 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo tiếp tục phạm tội, ngày 24/1/2002 bị TAND tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 30 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đến ngày 15/11/2003 bị cáo chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích. Ngày 24//42018 bị công an phường Q ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép ma túy nhiều lần, chứng tỏ bị cáo không chịu sửa chữa rèn luyện bản thân mà còn tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và tài sản đã được cơ quan điều tra thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Do đó mức hình phạt kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
Đối với anh Cao Quang P mua máy tính của các bị cáo nhưng không biết tài sản do các bị cáo H và D trộm cắp mà có nên không xử lý trách nhiệm hình sự đối với Cao Quang P là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự:
Người bị hại Nguyễn Khánh L đã nhận lại tài sản bị mất và tại phiên tòa chị L vắng mặt và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Cao Quang P mua máy tính của các bị cáo với số tiền 700.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thu hồi máy tính mà các bị cáo bán cho anh P để trả lại cho chị L (người bị hại). Bị cáo H đã trả lại 700.000 đồng cho anh P xong, anh P vắng mặt tại phiên tòa không còn yêu cầu gì nên không xét.
- Về xử lý vật chứng:
Chiếc xe mô tô hiệu Honda SH biển kiểm soát 76B1-21195 các bị cáo sử dụng đi trộm cắp, cơ quan điều tra xác định chủ sở hữu là bà Ngô Thị Kim A, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội bà không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Ngô Thị Kim A xong, nên không xét. Cơ quan điều tra đã thu giữ máy tính xách tay hiệu Dell Vostro V130 core i3 mà các bị cáo trộm cắp, đây là tài sản của chị Nguyễn Khánh L nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị L xong nên không xét.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Lương Trung H và Lê Ngọc D phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Xử phạt Lương Trung H 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2018.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Xử phạt Lê Ngọc D 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/6/2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Khánh L đã nhận lại tài sản xong, không còn yêu cầu gì nên không xét.
3. Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên không xem xét.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND TP. Quảng Ngãi; - Công an TP. Quảng Ngãi; - CC THADS TP. Quảng Ngãi; - Các bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm D |