- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng P, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2018/HS-PT Ngày: 15– 5– 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
Các Thẩm phán:
Ông Dương Quốc Tuấn
Bà Trịnh Thị Bích Hạnh
Thư ký phiên toà: Ông Võ Văn Tuấn Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2018/TLPT-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 05/2018/HS-ST ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Hậu Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
NGUYỄN HOÀNG P, sinh năm 1985 tại huyện CT, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: ấp PT, thị trấn MD, huyện CT, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Trần Thị L; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Ngọc D - Văn phòng luật sư Vạn Lý thuộc Đoàn luật sư thành phố Cần Thơ (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng P từng làm công nhân cho Công ty Coteccons, xây dựng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam, đồng thời biết rõ không có bảo vệ gác phía bên trái hàng rào của công ty, nên khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 05 tháng 11 năm 2017, sau khi uống rượu về đến nhà trọ Hoàng Quân thuộc ấp PT, thị trấn MD, huyện CT, tỉnh Hậu Giang đối diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam thì P đi bộ hướng từ cầu Ba Bụi, rồi đi dọc hàng rào sắt phía bên trái của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam, cách lộ khoảng 40-50m, P trèo qua hàng rào để vào bên trong công ty. P nhìn thấy nhiều ống Inox kích thước khác nhau để dọc theo đường nội bộ của Công ty, P lấy và vác lần lượt 07 ống Inox đưa ra ngoài hàng rào, sau đó P trèo qua hàng rào ra ngoài, kéo lần lượt từng ống Inox giấu dưới cỏ gần cầu Ba Bụi cạnh Quốc lộ Nam Sông Hậu, rồi trở về nhà trọ Hoàng Quân ngủ.
Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/11/2017, Nguyễn Hoàng P điện thoại thuê anh Bùi Văn H chở đồ thì H đồng ý. Khoảng 30 phút sau, H điều khiển xe ba gác biển số 61L8-0439 đi từ hướng thị trấn MD đến dốc cầu Ba Bụi thì gặp P chờ sẳn, lúc này P kêu H dừng xe gần nơi P giấu 07 ống Inox, P vác lần lượt từng ống Inox lên xe ba gác đến ống thứ tư thì bị bảo vệ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam phát hiện, giữ H và xe ba gác, còn P chạy thoát.
Căn cứ kết luận định giá số 22/HĐĐG ngày 07/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện CT kết luận: Tổng giá trị 07 ống Inox là 13.343.645 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2018/HSST ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Căn cứ vào các khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản“
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/3/2018, bị cáo Nguyễn Hoàng P kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà phát biểu quan điểm. Xét thấy, bị cáo thật sự ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có địa chỉ cư trú rõ ràng, có xác nhận của địa phương về hoàn cảnh bị cáo khó khăn, hiện đã ly hôn vợ và phải nuôi hai con còn nhỏ. Xét thấy bị cáo xin hưởng án treo là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b, Khoản 1 Điều 355, Điểm e Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, sửa bán án sơ thẩm. Áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) xử phạt bị cáo 09 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Người bào chữa cho bị cáo Luật sư Phạm Ngọc Diễm trình bày: Bị cáo P kháng cáo xin được hưởng án treo với những lý do sau: phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn, khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, chấp hành tốt những quy định của địa phương, có nơi cư trú rõ ràng cụ thể, trình độ học vấn thấp, khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại.
Tại phiên tòa P thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng P có đơn kháng cáo, xét đơn kháng cáo của bị cáo có hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên chấp nhận xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hoàng P thừa nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện theo nội dung của bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở xác định: Vào khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 05 tháng 11 năm 2017, sau khi uống rượu về đến nhà trọ Hoàng Quân thuộc ấp PT, thị trấn MD, huyện CT, tỉnh Hậu Giang đối diện Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam thì bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên bị cáo P đi bộ hướng từ cầu Ba Bụi, rồi đi dọc hàng rào sắt phía bên trái của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam, trèo qua hàng rào để vào bên trong công ty. Bị cáo lấy và vác lần lượt 07 ống Inox đưa ra ngoài hàng rào và giấu dưới cỏ gần cầu Ba Bụi cạnh Quốc lộ Nam Sông Hậu. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 05/11/2017, bị cáo có hành vi di chuyển tài sản đến nơi khác thì bị bảo vệ Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giấy Lee &Man Việt Nam phát hiện. Theo kết luận định giá thì tổng giá trị 07 ống Inox mà bị cáo trộm là 13.343.645 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì bản chất lười lao động mà muốn có tiền tài xài nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải có mức hành phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người đại diện của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại Điểm h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án 09 (Chín) tháng tù. Với mức án này là phù hợp, không nặng và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình giấy xác nhận của địa phương về hoàn cảnh bị cáo nghèo, đang gặp khó khăn, vợ đã ly hôn và giao hai con nhỏ cho bị cáo nuôi dưỡng, chưa có tiền án, tiền sự; nếu bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù giam thì không ai nuôi con nhỏ, gia cảnh bị cáo lâm vào tình trạng khó khăn. Qua xác nhận của địa phương, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải, do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ sức răn đe phòng ngừa tội phạm chung và có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng P, sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 355, Điểm e Khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hoàng P, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điểm h, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án P thẩm (15/5/2018).
Giao bị cáo Nguyễn Hoàng P cho Ủy ban Nhân dân thị trấn MD, huyện CT, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1b); - Công an xã nơi bị cáo cư trú (1b); - Công an huyện CT (1b); - VKSND tỉnh Hậu Giang (3b); - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang (1b); - PV27 – Công an tỉnh Hậu Giang (1b); - PC81 – Công an tỉnh Hậu Giang (1b) - VKSND huyện CT (1b); - Chi cục THADS huyện CT (1b); - TAND huyện CT (3b); - Lưu hồ sơ vụ án (1b); - Lưu THS (3b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Hồ Tâm Tú |