vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bị đơn – ông Đặng Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Đặng Văn H. Về con chung: Giao con chung: Đặng Linh C, sinh ngày: 20.5.2013 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Ông Đặng Văn H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc T xin ly hôn Đặng Văn H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bị đơn – ông Đặng Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 29.8.2018
Về việc: Tranh chấp "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Hà

Bà Nguyễn Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Dung – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Ngày 29.8.2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 186/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 186/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02.7.2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 186/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30.7.2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 90 đường T8, phường K, quận C, TP Đà Nẵng. (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm: 1978; Địa chỉ: Số 169 đường V, tổ 54 phường T, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 09.4.2018, bản tự khai ngày 22.5.2018 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đặng Văn H xây dựng gia đình vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ ông H địa chỉ số số 169 đường V, tổ 54 phường T, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Đến năm 2016 thì vợ chồng thuê nhà trọ sinh sống ở số 01 đường B, phường K, quận C, TP Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm. Từ khoảng tháng 6.2017 đến nay, ông H đã về sống tại số 169 đường V, phường T, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng, vợ chồng đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi, không ai còn quan tâm đến ai.

Nay bà xác định không còn tình cảm thương yêu ông H, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đặng Văn H.

- Về con chung: Bà xác định vợ chồng có 01 (một) người con chung: Đặng Linh C, sinh ngày: 20.5.2013.

Ly hôn, bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà xác định bà và ông Đặng Văn H không có.

- Về nợ chung: Bà xác định bà và ông Đặng Văn H không nợ nần ai và không ai nợ nần ông bà.

* Về phía bị đơn – ông Đặng Văn H: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập (niêm yết) hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Đặng Văn H vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc T về việc “Ly hôn” đối với ông Đặng Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng phát biểu quan điểm về thủ tục giải quyết vụ án; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị Ngọc T khởi kiện xin ly hôn với bị đơn - ông Đặng Văn H có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại nhà số 169 đường V, tổ 54 phường T, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng.

Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập (niêm yết) hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn – ông Đặng Văn H vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đặng Văn H.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Đặng Văn H xây dựng gia đình vào năm 2013, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống tại nhà cha mẹ ông Đặng Văn H địa chỉ số 169 đường V, tổ 54 phường T, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, theo bà T xác định là do ông H không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm. Từ tháng 6.2017 đến nay, ông bà đã sống ly thân mỗi người mỗi nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Để ổn định cuộc sống, bà Nguyễn Thị Ngọc T đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn ông Đặng Văn H.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc. Theo biên bản xác minh nơi ông bà cư trú thể hiện: hiện nay, ông bà đã tự sống ly thân mỗi người sống mỗi nơi, không có trách nhiệm gì với nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tổ chức hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng ông bà trở về đoàn tụ, nhưng ông H đều vắng mặt, điều này chứng tỏ sự bỏ mặc của ông Đặng Văn H. Do đó, nguyện vọng xin được ly hôn để không ràng buộc bởi quan hệ pháp lý của bà Nguyễn Thị Ngọc T là chính đáng và có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định vợ chồng có 01 (một) người con chung: Đặng Linh C, sinh ngày: 20.5.2013. Ly hôn, bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng một mặt phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của mỗi bên cũng như xem xét tới quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Hiện nay cháu Đặng Linh C đang được bà T chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo. Về phía ông H, như đã phân tích ở trên, mặc dù Toà án đã làm các thủ tục theo quy định của pháp luật để lấy ý kiến nhưng ông H hoàn toàn không có bất cứ phản hồi nào. Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho cháu Đặng Linh C nên cần giao cháu Đặng Linh C, sinh ngày: 20.5.2013 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành, ông H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Ngọc T đối với bị đơn – ông Đặng Văn H.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Đặng Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung: Đặng Linh C, sinh ngày: 20.5.2013 cho bà Nguyễn Thị Ngọc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành. Ông Đặng Văn H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Các bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

5. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000đ bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà đã nộp theo biên lai thu số 008187 ngày 19.4.2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) trích sao bản án.

Cỡ chữ