vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc H được ly hôn anh Lưu Anh T.

Về việc nuôi con: Chấp nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Ngọc H và anh Lưu Anh T: Giao con chung Lưu Huyền Anh, sinh ngày 31/10/2011 cho chị Bùi Ngọc H trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Huyền không yêu cầu nên Hội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình (Anh H và Chị T)"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc H được ly hôn anh Lưu Anh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST
Ngày 16-8-2018
V/v ly h«n, tranh chấp về nu«i
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 248/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 575/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Ngọc H; nơi cư trú: Đường N, phường M, quận Q, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lưu Anh T; nơi cư trú: Đ, phố C, phường G, quận Ngô N, thành phố Hải Phòng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam X, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ dân sự xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Bùi Ngọc H trình bày:

Chị và anh Lưu Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình, đám cưới tổ chức theo phong tục Việt Nam. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 16/11/2011. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đế việc vợ chồng xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn ngày càng trở lên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ đầu năm 2013 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai, kinh tế riêng biệt. Đến tháng 6 năm 2017, anh T bị Tòa án xử 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và hiện đang chấp hành án tại Trại giam X. Đến nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không có hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.

- Về con chung: Anh chị có một con chung là Lưu Huyền A, sinh ngày 31/10/2011. Từ khi anh chị sống ly thân con vẫn ở cùng với chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn anh Lưu Anh T trình bày tại bản tự khai như sau:

Anh và chị Bùi Ngọc H kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục truyền thống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 16/11/2011. Sau khi cưới cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được khoảng 3 đến 4 năm. Đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt hàng ngày, sau đó anh và chị H sống ly thân với nhau từ đó. Nay tình cảm của anh đối với chị Hvẫn còn. Chị H có đơn xin ly hôn với anh thì quan điểm của anh là đồng ý ly hôn vì anh đang chấp hành án phạt tù nên không thể bù đắp tình cảm cho chị H. Hiện anh đang thi hành án tại Trại giam X nên anh đề nghị Tòa án giải quyết vụ án và xét xử vắng mặt anh.

- Về con chung: Anh chị có một con chung là Lưu Huyền A, sinh ngày 31/10/2011. Do anh đang chấp hành án nên không có điều kiện để chăm sóc cho con, anh đề nghị Tòa án giao cho chị H nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, chị Bùi Ngọc H giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện và bản tự khai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc H được ly hôn anh Lưu Anh T. Về việc nuôi con: Giao con chung Lưu Huyền A, sinh ngày 31/10/2011 cho chị Huyền nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết. Về việc chia tài sản: Chị H và anh T không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên không đặt vấn đề giải quyết. Về án phí: Chị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng dân sự:

+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Lưu Anh T cư trú trên địa bàn quận Ngô Quyền nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 24 tháng 7 năm 2018, Tòa án đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 575/2018/QĐXXST-HNGĐ và đã tống đạt hợp lệ quyết định trên cho anh T nhưng do anh Tuấn đang chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Về quan hệ hôn nhân:

Chị Bùi Ngọc H và anh Lưu Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và tổ chức lễ cưới theo phong tục Việt Nam. Anh chị đã đăng ký kết hôn tại phường Uỷ ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng ngày 16/11/2011. Vì vậy, hôn nhân giữa chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị sống hòa thuận đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xảy ra xô sát cãi nhau. Qua xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện nguyên nhân mâu thuẫn chính là do tính cách không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên xô sát cãi nhau. Hai bên gia đình đã khuyên ngăn hòa giải nhưng không có kết quả mà mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở lên trầm trọng. Quan điểm của địa phương xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được đề nghị Toà án giải quyết cho chị H được ly hôn anh T. Hiện nay anh T đang chấp hành án tại Trại giam X, chị H xin ly hôn và anh Tuấn đồng ý ly hôn. Xét mâu thuẫn giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh T.

+ Về việc nuôi con:

Chị Bùi Ngọc H và anh Lưu Anh T có một con chung là Lưu Huyền A, sinh ngày 31/10/2011. Ly hôn anh chị thỏa thuận giao con Lưu Huyền A cho chị H nuôi. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thỏa thuận trên là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên cần áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận sự thỏa thuận về việc nuôi con của chị H và anh T. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

+ Về việc chia tài sản:

Chị Bùi Ngọc H và anh Lưu Anh T không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí:

Chị Bùi Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Ngọc H được ly hôn anh Lưu Anh T.

- Về việc nuôi con: Chấp nhận sự thỏa thuận của chị Bùi Ngọc H và anh Lưu Anh T: Giao con chung Lưu Huyền Anh, sinh ngày 31/10/2011 cho chị Bùi Ngọc H trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chị Huyền không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về việc chia tài sản: Chị Bùi Ngọc H và anh Lưu Anh T không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.

- Về án phí: Chị Bùi Ngọc H phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0014679 ngày 18/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Ngọc H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Bùi Ngọc H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Anh Lưu Anh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ