vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị H được ly hôn với ông Huỳnh Thái N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BÌNH THỦY
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST
Ngày 11/9/2018.
V.v Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Văn Nhân

2/ Ông Phan Ngọc Đáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Châu – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Tô Nguyễn Mộng Lành – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố C xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 104/2018/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

NGUYÊN ĐƠN: Bà Phùng Thị H, sinh năm 1988. (Có mặt).

Địa chỉ: phường L, quận B, thành phố C

BỊ ĐƠN: Ông Huỳnh Thái N, sinh năm 1983. (Vắng mặt).

Địa chỉ: phường L, quận B, thành phố C

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Phùng Thị H trình bày:

Bà và ông Huỳnh Thái N qua thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ vào ngày 13/6/2007. Thời gian chung sống có 01 (một) con chung tên Huỳnh Ngọc D (nữ) sinh ngày 20/12/2004. Cuộc sống hôn nhân giữa ông bà nảy sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính cách khác biệt không thể tìm được tiếng nói chung và vợ chồng sống không hạnh phúc nên đã sống ly thân. Hiện nay, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà đã không còn tình cảm đối với ông N nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

Về con chung: yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án triệu tập ông N nhiều lần nhưng bị đơn không đến dự, vụ án không hòa giải được và đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

Tại phiên toà, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu theo đơn khởi kiện ban đầu. Bị đơn là ông N vẫn tiếp tục vắng mặt.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét quan hệ pháp luật đây là vụ án xin ly hôn, đương sự có đăng ký kết hôn hợp pháp được pháp luật công nhận và điều chỉnh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

Bà H, ông N đã có thời gian chung sống vợ chồng, giữa ông bà có nhiều mâu thuẫn kéo dài. Nay vợ chồng đã sống ly thân, bà H khởi kiện xin ly hôn với ông N. Phía bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến dự.

Theo xác nhận của Công an phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, ông Huỳnh Thái N, sinh năm 1983, đăng ký thường trú tại phường L, quận B, thành phố C hiện đang ở địa phương. Do đó, căn cứ vào quy định của pháp luật Tòa án tiến hành niêm yết thông báo xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bà H vẫn cương quyết yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn, phía ông N tiếp tục vắng mặt cho thấy ông N không quan tâm gì đến mối quan hệ hôn nhân của ông và bà H. Hôn nhân bền vững và hạnh phúc phải có sự yêu thương, quan tâm của đôi bên vợ chồng, ông N không quan tâm đến bà H, phía bà H thì không còn tình cảm với ông N, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc xin ly hôn của bà H là có căn cứ để Tòa án chấp nhận.

Về con chung: Con chung tên Huỳnh Ngọc D (nữ) sinh ngày 20/12/2004, tôn trọng quyền lợi của con chung nên việc giao con chung cho bà H trực tiếp nuôi con là phù hợp.

Nếu sau này, bà H nuôi con không đảm bảo được các quyền của trẻ em thì ông N được quyền làm đơn xin thay đổi người nuôi con theo quy định của pháp luật. Cũng như vấn đề cấp dưỡng nuôi con, nếu thấy cần thiết để đảm bảo cuộc sống và học tập của con thì người trực tiếp nuôi con được quyền làm đơn yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: do vắng mặt ông N nên tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu các bên có tranh chấp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Điều 28, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Điều 51,56, 69 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015

Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Thị H được ly hôn với ông Huỳnh Thái N.

-Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Ngọc D(nữ) sinh ngày 20/12/2004 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Không buộc ông N cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông N.

- Về tài sản chung và nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ án khác nếu các bên có phát sinh tranh chấp.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Nguyên đơn bà H phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 008986 ngày 15/03/2018 thành án phí hôn nhân sơ thẩ m. Nguyên đơn đã nộp đủ tiền án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn được quyền kháng cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương bị đơn được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ