vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Cho chị Đoàn Thị Phương D được ly hôn với anh Chu Văn T. Chị Đoàn Thị Phương D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Văn Q, sinh ngày 28/7/2016 (hiện cháu đang ở với chị D). Anh Chu Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đoàn T Phương D - Chu Văn T"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH TƯỜNG
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ - ST
Ngày 31 tháng 8 năm 2018
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Kim Văn Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phùng Văn Thông

2. Ông Nguyễn Văn Chung

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Giang - Cán bộ Toà án nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2018/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị Phương D, sinh năm 1995.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Địa chỉ: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Bị đơn: Anh Chu Văn T, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI D VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại toà án, nguyên đơn chị Đoàn Thị Phương D trình bày:

Chị và anh Chu Văn T kết hôn ngày 02/02/2016 và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đăng ký và cấp giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn chị về chung sống cùng gia đình anh tại thôn M, xã T. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được 06 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T chơi bời không quan T chăm sóc gì đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên xẩy ra cãi, chửi và đánh nhau. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 7/2017 đến nay, trong thời gian ly thân thì vợ chồng đã bỏ mặc không quan T, chăm sóc hay giúp đỡ gì đến nhau trong cuộc sống nữa.

Năm 2017 chị đã có đơn xin ly hôn anh Chu Văn T tại Tòa án nhân dân huyện V, tuy nhiên sau đó chị đã có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình. Tòa án đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nhưng tình trạng hôn nhân của vợ chồng vẫn không được cải thiện được.

Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Chu Văn T.

Về con chung: Chị và anh Chu Văn T có 01 con chung là Chu Văn Q, sinh ngày 28/7/2016 (hiện cháu đang ở với chị). Ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, đất nông nghiệp và công sức: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Chu Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, bản thân anh Tđã nhận văn bản tố tụng của Tòa án tuy nhiên anh T đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án không yêu cầu anh Tviết bản tự khai hay tiến hành được việc lấy lời khai của anh T.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý đến thời điểm thời điểm xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thụ lý và thông báo về việc thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng trong vụ án; chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, ban hành và gửi thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định. Thẩm phán đã thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không kiến nghị gì về tố tụng.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Xử: Cho chị Đoàn Thị Phương D được ly hôn anh Chu Văn T.

Về con chung: Giao chị Đoàn Thị Phương D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Văn Q, sinh ngày 28/7/2016 (hiện cháu đang ở với chị D). Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn chị Đoàn Thị Phương D khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với bị đơn anh Chu Văn T theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy việc kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện V.

Về tố tụng: Bị đơn anh Chu Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đoàn Thị Phương D và anh Chu Văn T kết hôn ngày 02/02/2016 và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc đăng ký và cấp giấy chứng nhận theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và việc kết hôn là tự nguyện. Không thuộc trường hợp bị cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn. Vợ chồng đã có một thời gian chung sống hòa thuận, hạnh phúc và đã có 01 con chung. Chị D và anh T đã sống ly thân từ tháng 7/2017 đến nay, bản thân anh Tđã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều không đến Tòa án hay làm văn bản gửi đến Tòa án thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị D. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên việc chị D xin ly hôn anh T là có căn cứ. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị D được ly hôn anh T.

Về con chung: Căn cứ lời khai của chị Đoàn Thị Phương D và Trích lục khai sinh ngày 23/5/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thì chị D và anh Tcó 01 con chung là Chu Văn Q, sinh ngày 28/7/2016. Hiện cháu Q vẫn đang được chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện cháu Q chưa đủ 36 tháng tuổi. Vì vậy việc chị D xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Q là phù hợp theo quy định của Luận Hôn nhân và gia đình. Chị D tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, tài sản riêng, vay nợ, đất nông nghiệp và công sức: Do các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí:

Chị Đoàn Thị Phương D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

1. Cho chị Đoàn Thị Phương D được ly hôn với anh Chu Văn T.

2. Chị Đoàn Thị Phương D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Chu Văn Q, sinh ngày 28/7/2016 (hiện cháu đang ở với chị D). Anh Chu Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

Về án phí:

Chị Đoàn Thị Phương D phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: AA/2016/0003676 ngày 15 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V. Chị D đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện V;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện V.

(đã ký)

- Các đương sự;

- Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Kim Văn Quang CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Thông Lê Xuân Tầm

Kim Văn Quang Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND huyện V;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

- Chi cục THADS huyện V.

- Các đương sự;

- Ủy ban nhân dân thị trấn Thổ Tang (để biết);

- Lưu hồ sơ vụ án.

Kim Văn Quang

Áp dụng các Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Xử:

1. Cho ông Nguyễn Hồng Đào được ly hôn với bà Đỗ Thị Hồng Lê.

2. Về con chung: Bà Đỗ Thị Hồng Lê được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Việt Hoàng, sinh ngày 29/11/2008 (hiện cháu đang ở với bà Lê). Ông Đào có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng bà Lê cho cháu Hoàng với mức 1.500.000 đồng/01 tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2018 cho đến khi cháu Hoàng đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về án phí: Ông Đào phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con. Được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Đào còn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo bản án.

Cỡ chữ