vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Thùy Trang.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy Trang được quyền ly hôn với anh Lâm Thắng. Về con chung: Giao cháu Lâm Thị Bích Trâm, sinh ngày 27/4/2013 cho chị Trần Thị Thùy Trang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lâm Thắng không phải cấp dưỡng cho con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Thùy Trang.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 16 – 8 – 2018
“V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Huy Tùng.

2/ Ông Nguyễn Văn Linh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Trân – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 118/2018/TLST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2018 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2018/QĐXXST–HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thùy Trang, sinh năm 1996 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp Giồng Chùa, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Bị đơn: Anh Lâm Thắng, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Giồng Chùa, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Trần Thị Thùy Trang trình bày:

Chị Trang với anh Lâm Thắng kết hôn với nhau năm 2012 (đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Trần Đề và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 20 tháng 10 năm 2014). Sau khi kết hôn chị Trang và anh Thắng về sống bên gia đình chồng. Thời gian đầu hai người sống hạnh phúc. Đến năm 2017, hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Thắng chơi bời, lêu lỏng và cờ bạc, chị Trang nhiều lần khuyên ngăn nhưng không được dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị Trang bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống, hai người ly thân từ đầu năm 2017 đến nay. Nay chị Trang xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Thắng.

Trong quá trình chung sống chị Trang và anh Thắng có một con chung tên Lâm Thị Bích Trâm, sinh ngày 27/4/2013 đang sống cùng chị Trang.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Anh Lâm Thắng không có lời trình bày do vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã ban hành thông báo thụ lý số 118/TB-TLVA ngày 20 tháng 6 năm 2018, tống đạt hợp lệ cho bị đơn anh Lâm Thắng nhưng anh Thắng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thùy Trang. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ hai lần đối với anh Thắng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Thắng đều vắng mặt không có lý do. Tòa án đã lập biên bản về việc vắng mặt anh Thắng, không tiến hành hòa giải được và anh Thắng cũng không có lời khai trong hồ sơ vụ án. Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị Thùy Trang ly hôn với anh Lâm Thắng. Về con chung: Giao con cho chị Trang trực tiếp nuôi, anh Thắng không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay anh Lâm Thắng mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh Thắng.

Về nội dung: Tại tòa chị Trần Thị Thùy Trang giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án cho ly hôn với anh Lâm Thắng. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị Thùy Trang với anh Lâm Thắng là hôn nhân hợp pháp (hai người có đăng ký kết hôn). Trước khi kết hôn hai người có tìm hiểu nhau trước, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2017, thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Thắng không lo làm ăn, quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc. Hai người không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2017, thời gian ly thân vợ chồng không ai tới lui, chăm sóc nhau, trong giai đoạn hòa giải cũng như tại phiên tòa chị Trang kiên quyết yêu cầu ly hôn nên xét thấy tình trạng hôn nhân của hai người đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó chị Trang yêu cầu được ly hôn với anh Thắng là có căn cứ được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Cháu Lâm Thị Bích Trâm, sinh ngày 27/4/2013 đang sống cùng chị Trang. Về nguyên tắc việc trông nom, chăm sóc con chung là nghĩa vụ của cha mẹ. Tại Tòa chị Trang yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con, xét thấy chị Trang có đủ điều kiện nuôi con và yêu cầu này là có căn cứ được quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con do chị Trang không yêu cầu nên anh Thắng không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trang trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chị Trang yêu cầu nên chị Trang phải chịu theo luật định.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Trần Thị Thùy Trang.

- Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thùy Trang được quyền ly hôn với anh Lâm Thắng.

- Về con chung: Giao cháu Lâm Thị Bích Trâm, sinh ngày 27/4/2013 cho chị Trần Thị Thùy Trang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Lâm Thắng không phải cấp dưỡng cho con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trần Thị Thùy Trang không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trần Thị Thùy Trang phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2015/0009619 ngày 14/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy chị Trang đã nộp xong án phí.

Án sơ thẩm được xét xử công khai báo cho các đương sự biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Lâm Thắng được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ