- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm thị Tú N - Nguyễn Đình B"
- Tòa quyết gì? Bác yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Tú N. Quan hệ giữa chị Phạm Thị Tú N và anh Nguyễn Đình B vẫn là quan hệ vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST Ngày: 15/11/2018 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỆ THUỶ, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Sơn Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trương Quang Huy 2. Bà Lê Thị Trà Giang Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Diệu Linh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình.
Trong ngày 15/11/2018, tại Hội trường, Toà án nhân dân huyện Lệ Thuỷ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 127/2018/TLS-HNGĐ ngày 30/7/2018 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05/11/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Tú N, sinh năm 1990 Địa chỉ cư trú: Thôn P, xã H, huyện Lệ, tỉnh Quảng Bình. Tạm trú tại: Thôn H, xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đình B, sinh năm 1985 Địa chỉ cư trú: Thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn đề ngày 27/7/2018, được bổ sung tại bản tự khai, biên bản hoà giải và tại phiên toà, nguyên đơn chị Phạm Thị Tú N trình bày:
- Về tình cảm: Chị và anh Nguyễn Đình B tìm hiểu và đăng ký kết hôn trên tinh thần tự nguyện; anh, chị đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2010, quyển số 01/2010 ngày 30/9/2010 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với mẹ anh Bản tại thôn P, xã H, huyện L, tỉnh Quảng Bình được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh B ham chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh B vẫn không thay đổi. Chị bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống từ tháng 6/2018 đến nay mà không ai quan tâm đến ai. Chị N không còn tin tưởng anh B, yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Đình B.
Tại Bản tự khai và Biên bản hoà giải ngày 17/10/2018 cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Nguyễn Đình B trình bày: Quá trình kết hôn giống như chị N đã trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được tám năm thì xảy ra mâu thuẩn. Nguyên nhân do anh ham chơi, không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con; anh đã biết sai, mong muốn chị N tha lỗi, tạo cho anh một cơ hội và hứa sữa chữa khuyết điểm; hiện tại vợ chồng đang bán quán ăn tại Tổ dân phố X, thị trấn K; anh đang phụ giúp vợ để khắc phục khuyết điểm của mình. Anh B xác định vẫn còn tình cảm vợ chồng và vẫn thương yêu chị N, hơn nữa con chung của vợ chồng đang còn nhỏ, rất cần sự quan tâm, chăm sóc của cả bố và mẹ, vì vậy anh B yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N để vợ chồng đoàn tụ.
- Về con chung: Chị N và anh B cùng khai vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Tú N, sinh ngày 06/5/2011 và Nguyễn Thị Khánh B, sinh ngày 13/12/2013. Khi ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi 02 con chung. không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con vì chị có đủ khả năng và điều kiện để nuôi con. Anh B có nguyện vọng được đoàn tụ vợ chồng nên không có yêu cầu giải quyết về con cái.
Tại Bản tự khai ngày 17/10/2018, cháu Nguyễn Thị Tú N trình bày: Nếu Toà án giải quyết ly hôn, cháu xin được ở với mẹ để mẹ nuôi cháu ăn học.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị N và anh B cùng khai vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị Tú N và anh Nguyễn Đình B là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân dẫn đến việc chị N xin ly hôn do anh B ham chơi, không quan tâm đến gia đình, vợ con dẫn đến chị N chán nản, không còn tin tưởng vào anh B. Tuy nhiên, theo trình bày của chị N thì thời gian gần đây anh B đã biết khuyết điểm của mình, đã chăm lo làm ăn và quan tâm đến vợ con hơn. Vợ chồng chung sống với nhau đã 08 năm, có với nhau 02 con chung chứng tỏ anh, chị có thời gian dài chung sống hạnh phúc. Anh B tuy có những lúc ham chơi, không quan tâm đến chị N nhưng sau khi chị N nộp đơn đến Toà án, anh đã nhận ra những việc làm sai trái của mình với vợ con và đang khắc phục, sữa chữa khuyết điểm chứng tỏ anh vẫn rất quan tâm, thương yêu đến vợ con; tại phiên toà anh xin được đoàn tụ vì anh vẫn còn thương yêu, còn tình cảm với chị N và thương các con còn quá nhỏ.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức độ trầm trọng, anh B vẫn còn tình cảm vợ chồng với chị N, hiện tại anh đang tích cực sữa chữa khuyết điểm của mình, hơn nữa con chung của anh chị đang còn nhỏ, rất cần được sự quan tâm, chăm sóc của cả bố và mẹ. Vì vậy, cần tạo điều kiện cho anh B một cơ hội và bác yêu cầu xin ly hôn của chị N để vợ chồng trở lại đoàn tụ, cùng nhau làm ăn và nuôi dạy con cái trưởng thành.
. Về án phí ly hôn: Chị N phải chịu theo luật định.
. Về kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình;
Áp dụng khoản 4 điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Bác yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Tú N. Quan hệ giữa chị Phạm Thị Tú N và anh Nguyễn Đình B vẫn là quan hệ vợ chồng.
2. Buộc chị Phạm Thị Tú N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số 0001815 ngày 27/7/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Án xử công khai có mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/11/2018) để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Lệ Thủy; - TAND tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS Lệ Thủy; - UBND xã C; Nguyễn Ngọc Sơn - Lưu HS, VP. | (Đã ký) Nguyễn Ngọc Sơn |