vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 13/06/2018 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Hoàng Đình L.

Về nuôi con chung: 1. Giao hai cháu Hoàng Thị Trà M sinh ngày 16/5/2009 và cháu Hoàng Khánh L sinh ngày 12/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th với anh Hoàng Đình L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Hoàng Đình L.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 13 – 6 - 2018
V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Xuân Thanh.

Ông Trần Huy Lợi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lý Văn Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 56/2018/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2018 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐST ngày 31 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1976. Cư trú tại: Khối Ph,

phường Ngh, thị xã C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Đình L, sinh năm 1972. Nơi ĐKHKTT: Phường Ngh, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Hiện đang cư trú tại: Room no.203 Silver bells, 41-5 hosandongro 35gil, dalseo-gu, daegu-si (Hàn Quốc). Đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn đề ngày 02/5/2018, lời khai và tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Th trình bày: Chị và anh Hoàng Đình L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 15/5/1994 tại Uỷ ban nhân dân xã Ngh, huyện Ngh (Nay là phường Ngh, thị xã C, tỉnh Nghệ An). Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung hạnh phúc với nhau đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do quan điểm sống giữa hai người không phù hợp nhau. Hơn nữa, anh L ở nước ngoài, không quan tâm, thiếu trách nhiệm với vợ con, nên đã lâu hai người không quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị Th yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Hoàng Đình L để mỗi người có cuộc sống riêng.

- Về con chung: Vợ chồng có bốn con chung gồm, cháu Hoàng Thị Huyền Tr, sinh ngày 28/9/1994; cháu Hoàng Thị Dung sinh ngày 30/11/1996; cháu Hoàng Thị Trà M sinh ngày 16/5/2009 và cháu Hoàng Khánh L sinh ngày 12/02/2011. Hiện cháu Tr và cháu D đã đủ 18 tuổi trưởng thành, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Trà M và cháu Khánh Ly đang ở với chị, nếu ly hôn chị Th xin được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận với nhau; Vợ chồng không nợ ai cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía anh Hoàng Đình L: Sau khi thụ lý vụ án, anh Hoàng Đình L đã biết được việc chị Nguyễn Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn anh và giải quyết các nội dung liên quan tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tại Đơn trình bày và Bản tự khai ngày 15/5/2018 anh Hoàng Đình L đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án mà chị Nguyễn Thị Th yêu cầu ly hôn anh như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Đình L thừa nhận, điều kiện, thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn; Mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như chị Nguyễn Thị Th trình bày, nay chị Th yêu cầu ly hôn anh L cũng đồng ý để giải phóng cho nhau.

- Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung, họ tên ngày tháng năm sinh và có hai cháu đã đủ 18 tuổi trưởng thành đúng như chị Nguyễn Thị Th khai. Còn hai con hiện chưa thành niên, nếu ly hôn anh L có nguyện vọng được nuôi cháu Hoàng Thị Trà M còn chị Th nuôi dưỡng cháu Hoàng Khánh L.

- Về tài sản và các khoản nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận với nhau; Không vay nợ ai và cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh Hoàng Đình L hiện đang ở nước ngoài, điều kiện khó khăn không thể trực tiếp về tham gia giải quyết và tham gia phiên toà được, nên anh L đề nghị Toà án giải quyết, xử vắng mặt.

Cháu Hoàng Thị Trà M và cháu Hoàng Khánh L trình bày: Các cháu là con của mẹ Thìn, bố Lý, từ khi bố đi nước ngoài các cháu ở với mẹ. Nay, nếu bố mẹ ly hôn nhau, nguyện vọng của hai cháu xin tiếp tục được ở với mẹ để ổn định học tập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Hoàng Đình L hiện đang ở nước ngoài không thể về nước để hoà giải và trực tiếp tham gia phiên toà được. Ngày 15/5/2018 anh Hoàng Đình L đã có quan điểm về việc giải quyết vụ án và đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc trường hợp không hoà giải được và Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Đình L theo quy định.

Về nội dung: Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị Th vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Đình L và yêu cầu được tiếp tục nuôi hai con chưa thành niên. Xét thấy, chị Th và anh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do quan điểm sống không phù hợp nhau, nên trong cuộc sống vợ chồng bất đồng. Và từ khi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc anh L không quan tâm, thiếu trách nhiệm với vợ con, nên mâu thuẫn vợ chồng càng căng thẳng và đã lâu hai người không quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay cả anh L và chị Th đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và hai người thống nhất ly hôn, nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho họ ly hôn nhau.

Về con chung: Anh L và chị Th đều thống nhất, vợ chồng có bốn con chung gồm, cháu Hoàng Thị Huyền Tr, sinh ngày 28/9/1994; cháu Hoàng Thị D sinh ngày 30/11/1996; cháu Hoàng Thị Trà M sinh ngày 16/5/2009 và cháu Hoàng Khánh L sinh ngày 12/02/2011. Hiện cháu Trvà cháu D đã đủ 18 tuổi trưởng thành, chị Th và anh L không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét.

Đối với cháu Hoàng Thị Trà M sinh ngày 16/5/2009 và cháu Hoàng Khánh L sinh ngày 12/02/2011, hiện đang do chị Th nuôi dưỡng. Nguyện vọng của anh L nếu ly hôn được nuôi cháu Trà M, tuy nhiên anh L hiện đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung. Hơn nữa, chị Th yêu cầu giao hai con chung chưa thành niên cho chị Th nuôi dưỡng và chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng, nên cần giao cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng; Hiện chị Th chưa yêu cầu, nên cần tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh L. Anh L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Anh L và chị Th đều thống nhất vợ chồng tự thỏa thuận với nhau; Không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 207; Khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Hoàng Đình L.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao hai cháu Hoàng Thị Trà M sinh ngày 16/5/2009 và cháu Hoàng Khánh L sinh ngày 12/02/2011 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

2.2. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hoàng Đình L. Anh Hoàng Đình L có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh Hoàng Đình L và chị Nguyễn Thị Th đều thống nhất vợ chồng tự thỏa thuận với nhau; Không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0000703 ngày 07/5/2018.

5. Về quyền kháng cáo:

5.1. Chị Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5.2. Anh Hoàng Đình L đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ